Thursday, April 9, 2015

Nhớ ngày 9 tháng 4

Ngày này cách đây 40 năm (9-4-1975) SĐ18 BB chiến thắng vẻ vang tại tuyến thép Xuân Lộc, Long Khánh.
Tiểu Đoàn 1/48 (TĐ1/48) và Chi Đoàn 1/5 Thiết Giáp (tăng phái) chúng tôi cũng đã góp chút công, đánh tan Trung Đoàn 266 CSBV xăm nhập tại Cua Heo; giữ vững phòng tuyến, đánh chặn SĐ 6+7 trong 3 ngày ròng rả (quân Bắc Việt rót thêm quân vào để cố chiếm TX Xuân Lộc).
Với lực lượng 1 chọi 3 và có khi bị trấn áp nhiều hơn nữa, nhưng chúng tôi vẫn cố thủ, cố đánh đến khi kẻ địch bỏ chạy.
Nhiều người đã nói, viết, hồi ký, tuyên truyền dựng cảnh… cả hai bên đều dành phần thắng.
Nhưng với tôi, kỳ tích chiến thắng này mang nhiều yếu tố may mắn, hay không bằng hên, người muốn không bằng trời muốn.
Nếu không có may mắn Tiểu đoàn chúng tôi đã tan nát trước sức tràn biển người của quân BV. Họ đông như kiến bu và điên khùng đến nỗi từng lớp gục ngã trước hoả lực của thiết giáp, súng nhỏ của lính bộ binh, đại bác bắn hoả tập, bom thả từng chập của máy bay phản lực.
Các đơn vị phòng thủ trong Thị xã Xuân Lộc chắc chắn đã đào công sự phòng thủ vững chắc, tu bổ hằng ngày chờ quân Bắc Việt vào, khi tin tức chiến sự mỗi ngày thêm tồi tệ: Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho lệnh rút bỏ các tỉnh ngoài miền Trung; Phước Long đã thất thủ, địch quân mỗi ngày càng tiến gần về Saigon.
TĐ1/48 chúng tôi làm trừ bị cho sư đoàn, mỗi ngày di chuyển từ nơi này sang nơi khác, không ở một nơi nhất định, đụng đâu đánh đó. Vì vậy ngay từ lúc đầu nổ súng, địch pháo như mưa (vài ngàn quả đạn) vào những căn cứ, trại, cơ quan chánh quyền, vậy mà đạn pháo không rơi quả nào vào chỗ đóng quân tạm của chúng tôi.
Hôm đó, lúc trời vừa rạng sáng khoảng 5 giờ 30, pháo VC đánh thức tôi choàng dậy, quơ vội súng đạn, nai nịt gọn gàng, chờ đợi… chắc chắn là sẽ có lệnh di chuyển rồi! Quả thật đoán không sai, anh lính truyên tin đưa ống nói, đại bàng nhận lệnh gấp từ bên BCH/Trung Đoàn. Tôi chỉ chụp vội tấm bản đồ bộc plastic, choàng áo giáp, đội nón sắt, giao lệnh chuẩn bị hành quân cho ông tiểu đoàn phó, leo xe jeep dong thẳng qua Bộ Chỉ Huy/Trung Đoàn (BCH/TRĐ).
Tôi quên nói là tiểu đoàn tôi đang đóng quân dã ngoại trong vườn cây nhà dân gần Ngã ba Tân Phong, ngó qua bên kia đường QL 1 là BCH/TRĐ 48, đóng tạm trong Chi Khu Xuân Lộc. Địch đang pháo kích ầm ầm, cây cành rơi ngã ào ào, con đường không người qua lại, lính trong đồn trong công sự ghìm súng. Cửa đồn vừa mở xe chạy thoát vào, đạn pháo nổ rượt đàng sau, hú vía!
Vào đến hầm thiết ống chụp nhà vòm của BCH/TRĐ tôi sững người vì chạm ngay mặt ông Tướng (tôi không hiểu sao ổng từ BTL/SĐ, đóng trong Thị Xã, hồi nào mà vọt lẹ ra đây? Sau này tôi mới biết Hằng Minh, danh hiệu Tướng Lê Minh Đảo, mới bay trực thăng từ Long Bình lên, đáp thẳng xuống bải đáp Chi Khu, báo hại cho Bộ Tham Mưu (BTM) đi kiếm, không biết ông đang ở đâu. Bàn cờ, VC quân đỏ, vô pháo đầu, bên xanh chấp tướng!
Ngó quanh quất trong nhà hầm mái vòm chật hẹp, tôi thấy có Trung Tá Trần Minh Công,Trung đoàn trưởng/TRĐ48, một ông sĩ quan bên Thiết Giáp mặc áo giáp che lon cổ, vài anh lính truyền tin ngồi nghe máy. Kỳ dư tôi không thấy có giới chức nào trong BTL/SĐ (Tôi lại cười trong bụng, phen này ông tướng đánh giặc mình ên, khỏi cần sĩ quan tham mưu). Trong suốt mấy ngày lâm trận ông tướng liên lạc cho lệnh thẳng cho tôi, nên báo cáo kịp thời đúng lúc diễn biến của trận địa; xin phi pháo dễ dàng qua luôn ông. Đó là điều may mắn cho tôi đi vào trận, có ông tướng theo sát yểm trợ, khỏi qua nhiều lệnh lạc zic zac!
Hằng Minh không dài dòng;” Em dắt tiểu đoàn, qua cho tăng cường một chi đoàn chiến xa, lên giải toả làng Thương Phế Binh, tụi nó đã lọt vào trong đó, để đưa quân vô chợ?”
Tôi cũng nói luôn quan niệm điều quân: ”Nhận lệnh rõ, tôi sẽ cho 2 thằng con tùng thiết, các ĐĐ và BCH/TĐ còn lại sẽ vượt qua QL1 trước, bọc vòng lô cao su bên phía tây, yểm trợ cho thiết giáp tiến thẳng lên tới đường xe lửa.” Tôi bắt tay với ông sĩ quan thiết giáp OK, chào hai vị chỉ huy trực tiếp, ra xe, đội pháo, tài xế lái chạy thục mạng.
Đại úy Ẩn, Tiểu đoàn phó (TĐP), K20 Võ Bị (tôi đã phải kỳ kèo ông tướng xin cho về tiểu đoàn), dẫn theo hai đại đội leo thiết giáp chờ lệnh: Khi nào tôi đưa quân qua hết QL1 vào rừng cao su án ngữ bảo vệ cạnh sườn, mới cho xe nổ máy, vượt tuyến xuất phát; rồi theo chân lính bộ binh dọt lên hướng bắc, dừng lại chờ ở tuyến chạm địch (lấy đường rầy xe lửa làm chuẩn, mục tiêu là làng Thương Phế Binh/Long Khánh, VC đang ở trong đó). Lệnh tuyệt đối im lặng vô tuyến, chưa có lệnh chưa nổ súng.
May mắn về phía chúng tôi, trong lúc pháo kích ầm ì, tiếng xích sắt trong lô cao su được giảm thanh, địch quân không ngờ là chúng tôi đã đến đúng điểm hẹn tao ngộ chiến, trước họ vài phút, làm chủ tình hình.
Tôi dẫn BCH và trinh sát cố gắng chạy nhanh chừng nào hay chừng nấy, theo cho kịp mấy con cua sắt gầm gừ len lõi qua các lô cao su, nghiến lá khô kêu ào ào. Tiếng Đ/U Ẩn liên tục thúc hối: ”Chúng nó tiến gần sát chúng tôi rồi!” - ”Không được tác xạ nếu chưa thấy chúng nó” tôi vừa đẩy lưng anh lính hiệu thính viên tới trước, vừa hổn hển ”Nghe tôi đây, chưa nổ súng nếu chúng chưa hiện rõ ra. Tôi đang gần tới anh rồi, nhận rõ trả lời?”.
“Đại bàng ơi, chúng tới rồi, đông lắm… còn chừng 100 mét,… nghe rõ tiếng lá dưới chân… gần quá rồi, tôi không chờ được nữa đâu!”
Nghe đến đây súng hai bên nổ rền trời. Tiếng đại liên trên chiến xa giòn giã, tiếng đạn đại bác nổ ầm ầm. Đạn địch vãi tung toé trên cành lá cao su, tung toé lá khô dưới chân, mặc kệ, tôi hô quân tiến lên cho kịp với tuyến đầu chạm địch.
Hoả lực bên ta đàn áp địch dữ dội, chưa trận đánh nào mà tôi nghe đủ thứ đạn lớn nhỏ nổ rền trời, điếc tai, nhức óc như lần này; quân ta tiến lên chân như mọc cánh. Tôi không còn nghe tiếng nói của ông TĐP nữa, vừa lúc tôi đã gặp tiền quân, mũi say mùi thuốc súng, tai ù đau nhức.
Trong vòng chừng 15 phút không còn nghe tiếng đạn địch bắn trả, tôi cho lệnh hai ĐĐ 2 và 3 xung phong, đạn bộ binh ria vãi, súng thiết giáp bắn đuổi theo chân địch. Đến khi hai ĐĐT báo cáo địch đã chạy ngược hẵn về bên kia QL1 gần đoạn đướng vòng Cua Heo, tôi cho lệnh dừng quân bố trí làm tuyến chặn, lục soát chiến trường.
Xác bộ đội chánh qui BV quần áo kaki xanh vàng chết nằm la liệt bên những gốc cây cao su máu đọng vũng. Bên dưới con hào chống chiến xa (tỉnh Long Khánh cho đào từ trước) xác người nằm ngổn ngang, chồng chất lên nhau xếp lớp.
Các đơn vị báo cáo sơ khởi thiệt hại, lính TĐ có vài người bị thương được cáng về Ngã 3 Tân Phong chờ tải thương, bên Thiết Giáp một Chuẩn Uy hy sinh vì đạn B40. Tôi cảm tạ ơn trên, đã phù hộ cho chúng tôi không bị thiệt hại nhiều từ phút đầu.
Vũ khí tịch thu được nhiều vô kể, súng lớn súng nhỏ được chất đầy 2 chiếc xe lam 3 bánh và trong xe M113 chở về Tân Phong cho TRĐ làm chiến lợi phẩm.
Một toán địch lọt vào làng TPB bắn AK báo tin cầu cứu, vài toán bộ đội liều mạng băng qua đường, làm bia bắn cho lính ĐĐ2 đang nằm, ngồi gốc cao su; ghìm súng bắn trả từng đợt qua bên kia bờ QL. ĐĐT/ ĐĐ2 báo cáo tịch thu được môt bản đồ hành quân vẽ tay, trong túi áo của một cán binh (chính uỷ Trung Đoàn).
ĐĐ3 giữ kẹp đường thoát ra của toán địch bên trong làng. Thiết giáp tạm ngưng hoả lực cho pháo binh nả đạn pháo tập TOT bên kia đường QL. Xác người được mang bỏ xuống đường hào sâu.
Nhưng suốt ngày hôm đó chúng tôi không được yên vì địch quân reo hò xung phong nhiều lần qua tuyến chặn, lớp men theo đường hào, lớp xông qua bám bờ đất.
May mắn thay anh Bãy Chơi (đặt lén nickname của ông Tướng, hay Hằng Minh, tay chơi văn nghệ tài tử) trực tiếp điện đàm với tôi, nên tôi xin phi tuần lên vùng đánh bom, hay gọi pháo đội 100 tràng, lần nào ông cũng cho đủ. Thời gian đó không còn cố vấn Mỹ để nhờ cậy, đạn dược bị hạn chế tối đa. Đến nỗi nhiều lần anh Bãy la tôi trong máy: ”Mày xài sang quá nghe Tư Ngạnh!” (nickname của tôi; cũng như nhiều tên như Hắc, Bạch Công Tử, Sáu Bù Lon, Năm Chỏi… nhiều sếp khác bị anh Bãy coi mặt đặt tên ngang xương!).
May mắn là lính đã có sẵn một ngày cơm nắm, nấu sẵn từ ngày hôm trước, nên dù đánh nhau suốt ngày cho đến đêm (ĐĐ3 của Tr/U Kiệt lùng đánh một trung đội tiền sát của địch đã lọt vào khu làng TPB, nhà bỏ trống). Đến rạng sáng ngày 10-4-75 mục tiêu được thanh toán, quân ta chiếm giữ lại ngôi làng, bắt sống 6 tù binh. Bên ta 3 binh sĩ tử trận, vài người bị thương.
Ngày hôm sau (10-4-75) địch pháo vào đội hình đóng quân của chúng tôi, có lẽ hết đạn nên lẹt đẹt vài quả lấy lệ, nhưng họ dùng chiến thuật biển người đưa quân qua đường, liền bị pháo tập nả liên hồi, phi cơ lên vùng ném bom tới tấp, phải tháo chạy ngược về. Những toán xung phong đầu tiên lọt vào đường hào chống chiến xa, nơi xác người ngập ngụa, tầm ngắm của đại bác hay đại liên trên chiến xa khạc đạn liên hồi, bộ đội ra đi không hề quay lại!

Sáu tù binh do ĐĐ3 giải về làm chúng tôi ngỡ ngàng, thương cảm hơn là thù hận. Các em độ tuổi 15, 17, gầy xanh mướt, luôn kêu khát nước, van xin đừng giết chúng con! Lính móc trong túi áo mấy em ra thấy mỗi người có vài mẫu lương khô chữ Trung Quốc, 4 viên thuốc màu đỏ. Hỏi các em đã ăn uống gì chưa, đáp không ăn vì khát nước, 4 viên “hồng đơn tăng lực” khi có lệnh của chính trị viên mới nuốt vào cổ? Sau này chúng tôi mới biết đó là ma tuý estasy, nuốt vào làm người lơ mơ đờ đẫn, hăng máu, bất kể sống chết xung phong vào mục tiêu? Y tá băng bó cho các em, lính chia cơm nắm, điếu thuốc với các em, đưa các em về phía sau cho B2 /TRĐ. Những tù binh này đã kể lại “đời bộ đội” của họ trên làn sóng phát thanh, đài truyền hình Saigon.
Mãi mê canh giữ Cua Heo ngày đêm không để địch tràn qua, lính tráng thay phiên nhau người ngủ, kẻ thức nhìn hoả châu soi sáng suốt đêm; lệnh im lặng vô tuyến, máy xe không nổ, người không làm động lá cây khô. Lương khô quân đội, nước uống đã được phía sau tiếp tế đầy đủ, chỉ tội cho mấy anh nghiện thuốc lá đêm sương lạnh ngáp sái quai hàm.
Mặt trận chúng tôi có lúc tạm yên thì các nơi khác trong thị xã đánh nhau súng nổ vang trời, khói súng cuộn đen bay lên bầu trời xám. Quả thật, lúc đó tôi không còn lòng dạ nào theo dõi chi tiết từng mặt trận, biết các đơn vị bạn nào chạm súng ra sao!
Sang ngày thứ ba (11-4-75) chúng tôi vẫn tiếp tục xin phi pháo vào những địa điểm ở phía bắc miệt Suối Tre, tiếng máy xe theo hướng gió nghe lồng lộng. Công sự phòng ngự hầm hố vững chắc hơn, hoả lực đạn dược được tăng cường 2,3 cấp số nhờ những anh em lao công đào binh (LCĐB) mang chuyển. Những anh em này còn giúp kéo xác người đem chôn dưới lòng hào chiến xa; chôn lấp cẩn thận trong hố tập thể để tránh sình thối, mai sau thân nhân tìm được.
Có lần tôi nghe qua tần số máy truyền tin của sư đoàn, tin TRĐ52BB bị đánh tan ở Dầu Giây làm tôi lo quá, không biết những bạn đồng đội của tôi bên đó sống chết ra sao? Trước khi về nhận TĐ1/48, tôi đã sống ở TRĐ52 vài tháng, tuy làm sĩ quan ca nhõng vì chưa có chức vụ, nhưng thời gian đó tôi rất hạnh phúc vì được trở lại Quân Đội sau 4 năm làm quận trưởng chán nghiệp quan trường. Tôi nghe tiếng Hằng Minh nấc trong ống liên hợp mà thương cho ông và thương quá đồng đội cũ.
Một buổi sáng anh Bãy lại lên máy kêu đích danh tôi nói chuyện:
”Qua cho em lá bùa, em muốn dán nó ở đâu cho qua biết?”
Tôi mừng quá, như người buồn ngũ gặp chiếu manh, xin lá bùa hộ mạng dán trước tuyến chặn Cua Heo vào tới Suối Tre, ma quỹ đang tụ tập để quấy rầy, nhác ban ngày, hiện ban đêm! Óng cười trong máy, nói thằng Tư mày dỡn chơi, bùa này linh phải dán xa cả chục cây số, thôi để qua trả lại cho người ta! Lần đó tôi biết ông Tướng hù tôi chơi về bom CBU 55 mà tôi có nghe loáng tháng đâu đó qua tin trời biển. Bom CBU 25 thì tôi biết rồi, cái lần phản lực Hạm Đội Mỹ bay vào đất liền, thả vài pass xuống rừng cao su phía Nam Chi Khu An Lộc. Lần đó T54 và biển người la ó dậy trời đánh vỗ vào mặt quân tử thủ; bị bom bi nổ từng chập kéo dài nhiều giờ đồng hồ, VC đã rút lui mà nó còn nổ chậm theo tiễn đưa.
Ngày 12-4-75 Út Trầu (Đại úy Út, Tiểu Đoàn Trưởng/TĐ 1/52) kéo quân từ Dầu Giây về nằm chung với TĐ1/48, gối đầu một ngày cho tiểu đoàn chúng tôi trở về Ngả 3 Tân Phong, tiếp tục làm trừ bị cho sư đoàn. Đến ngày 13-4-75 TĐ1/48 rời vùng, giao lại cho TĐ2/52 tiếp tục làm tuyến chặn địch tại Cua Heo, lục soát bên kia QL1 (địch quân đã rút đi để lại nhiều xe cộ, vũ khí hư hõng).
Về nằm dưỡng quân làm trừ bị, tôi có dịp theo dõi tin Lữ Đoàn Dù đang hành quân mở rộng tuyến về hướng đông núi Chứa Chan, các đơn vị Dù, nhất là Trinh Sát Dù đánh nhiều trận thật đẹp đẩy lùi quân Bắc Việt ra xa.
Đến ngày 20-4-75 chúng tôi bị cú sốc, bàng hoàng vì Hằng Minh đến ban lệnh trực tiếp cho tôi. Lệnh cho TĐ1/48 mở đường về Bình Giả để Sư đoàn và Tỉnh Long Khánh rút bỏ vùng đất vừa mới chiến thắng, còn mùi thuốc súng, bỏ chạy như kẻ thất trận, dân chúng hoảng hốt bồng bế chạy theo.
Lúc 6 giờ chiều ngày 20 nói trên,TĐ 1/48 chúng tôi mở đường, được lệnh gặp địch đánh vượt qua, không cầm cự; gặp vài toán du kích lẻ tẻ vùng Cẩm Mỹ bắn vài phát rồi tháo chạy. Sáu giờ sáng hôm sau, cánh quân đi đầu đến Bình Giả vô sự, trong khi đó hậu quân SĐ18, Tiểu Khu Long Khánh và Nhảy Dù, đụng trận phía sau khói lửa mịt mù.
Tôi ngồi viết lại những giòng chữ này theo ký ức 40 năm qua; những ấn tượng cuộc đời chinh chiến khó quên, không cần suy nghĩ nhiều, nhớ đến đâu viết đến đó. Như tôi đã thưa trước trận đánh tại Thị Xã Xuân Lộc, TĐ1/48 chúng tôi đã gặp rất nhiều may mắn: trong đường chết hiện ra sinh lộ, CSBV gặp hạn thua đau, SĐ18BB chiến thắng để tiếng về sau.
40 năm qua, tôi vẫn nhớ lời tướng Đảo nói với tôi khi tôi về tiếp nhận TĐ1/48, (tan nát hết phân nửa quân số, Th/T TĐT Trần Phú Lập bị thương nặng, 2 ĐĐT tử thương, Tiểu đoàn đang co cụm chịu pháo tại cầu Gia Huynh đường qua Quận Tánh Linh):
“Qua cho sửa lại cổng hậu cứ TĐ rồi, em về ráng chỉnh đốn lại tụi nhỏ!”
Quả thật lúc đó tôi từ bên TRĐ52 qua, chưa biết ất giáp gì về hậu cứ phong thuỷ của TĐ này. Mãi về sau qua Úc gặp Luật sư Hoàng Lập Chí, cựu sĩ quan của TĐ1/48 thời trước, ông cho biết Tướng Đảo nói đúng; cổng ra vào của hậu cứ TĐ ai dựng lên mà mặt ngó qua nhà xác của đơn vị khinh kỵ Blackhorse của Mỹ, nên TĐ luôn gặp xui xẻo? Nhờ ông Tướng coi thầy, cho sửa lại cổng chánh, về sau mới khá?
Ngày 9-4-75 địch pháo rát mặt vào BTL/SĐ, nếu Tướng Đảo kẹt trong đó, khó biết tình hình bên ngoài, không ra lệnh ứng xử tại chỗ: ước đoán tình hình địch, đích thân lược trận, chỉ huy trực tiếp TĐ1/48+Chi Đoàn 1/5 TG đánh thẳng lên Cua Heo, giải toả làng Thương Phế Binh thì 2 SĐ 6 và 7 CSBV biển người bộ binh từ mặt Bắc Tây Bắc (nhất điểm) tràn vào tiến chiếm thị xã dễ dàng? Trong khi đó thiết giáp địch tấn công hướng Đông Bắc và vài cánh quân nhỏ đánh nghi binh vào hướng Nam (lưỡng diện), thế trận thật khó gở? Đúng là hay không bằng hên: nếu anh Bãy không qua đêm ở Long Bình, sáng sớm bay kịp vào Long Khánh thì cục diện sẽ ra sao?
TRĐ 48 mới thay cấp chỉ huy, Đại tá Trần Bá Thành ra làm Tỉnh Trưởng Bình Tuy (Hàm Tân) mang theo TĐ3/48 phòng thủ. Trung tá Trần Minh Công từ QĐ/QK3 về thay chưa gặp mặt các Tiểu Đoàn Trưởng dưới quyền, chưa nắm vững nội tình: TĐ2/48 nằm đường, giữ an ninh lộ trình từ Xuân Lộc về Long Giao, TĐ1/48 làm trừ bị sư đoàn.
TĐ1/48 chúng tôi mới hấp lại được một tháng ở căn cứ Long Bình, quân số bổ sung theo cấp số mới 600 người, nhưng thuộc lính tứ chiến, sĩ quang hết phân nửa từ các đơn vị khác đưa về, chưa ai biết ai; thậm chí Tiểu Đoàn Phó tôi phải xin xỏ Đại úy Ẩn K20VB, đang làm trồng trọt chăn nuôi ở hậu cứ! Nhưng hay không bằng hên, ai nấy cũng đều là dân mới cả, không có ma cũ ma mới, phe cánh, tuổi đời trên dưới 30 nên cũng dễ thông cảm.
40 năm qua tôi vẫn không quên Ẩn Ruby, hút thuốc lá QTV, hiền lành từ tốn. Khi tiểu đoàn kéo quân ngang nhà anh ngày 20-4-75 ở Bà Rịa, chị nhà mời chúng tôi ghé uống nước dừa, nói riêng với tôi cho anh ở lại, nhà đã lo cho một ”vé” xuống tàu di tản. Tôi khều anh ”muốn đi thì cứ ở lại nhà”, anh từ chối, nai nịch theo tiểu đoàn. Đại úy Đô K20VB mới về làm Trưởng Ban 3 Hành Quân chăm chỉ hạt bột. Đại uý Nhiên ĐĐT/ĐĐCH, ngày 30-4-75 lính bỏ đi, anh đòi vác súng 75 ly ra bắn chiến xa địch, ngoài tầm tác xạ! Đại úy Tươi từ Địa Phương Quân về coi ĐĐ4, đêm 27-4-75 ĐĐT vật lộn nhau với VC tràn vô tuyến phòng thủ ở Trảng Bom. Trung úy Hùng ĐĐT/ĐĐ1 là người kỳ cựu lâu năm gắn bó với tiểu đoàn. Trung úy Dự (mắt kiến) lập công đầu trong ngày 9-4-75. Trung úy Kiệt (con) lính ĐĐ3 rất sợ ông đại đội trưởng nhỏ con nhưng lớn gan, lệnh đâu ra đó, từng làm Đại Đội Trưởng/Trinh Sát nhưng cấp chỉ huy không biết xài người đổi đi. Và những sĩ quan trẻ trong BCH/TĐ mà tôi không còn nhớ hết tên, đối xữ nhau tình anh em đồng đội gắn bó: trong ngày 30-4-75 còn lại 51 anh em sĩ quan, hạ sĩ quan, và binh sĩ không buông súng, vẫn theo tôi, dù tôi chẳng còn quyền hạn gì bắt họ đi theo… Tôi thật sự cảm động, bất ngờ vì các SQ/TĐ/1/48 ngồi sẵn ngoài quán đợi, ngày 2-5-75 họp mặt lần cuối, tin cậy là tôi có thể dẫn anh em tìm nơi làm phục quốc hay tìm cách vượt biên.
Nhưng mọi thứ đều đã an bài, lực bất tòng tâm!
Hôm nay là ngày 9-4-2015, 40 năm sau tôi vẫn nhớ đến trận đánh ở Xuân Lộc-Long Khánh:
Nhớ Hằng Minh xữ trí lanh lợi, văn nghệ tài tử, thương đàn em; toàn thể sư đoàn ai cũng quý ông vì ông ở lại với anh em đến giờ phút cuối, trong khi quan quyền khác cuốn gói bỏ chạy trước.
Nhớ các anh thuộc TĐ1/48 cùng tôi sống chết trong sáu tháng tôi nắm TĐ này. Thời gian dù ngắn ngủi nhưng tình đồng đội gắn bó giúp chúng ta làm nên chiến thắng lẫy lừng. Tôi không cần ai khen chê quá khứ 40 năm qua; còn sống cho tới ngày nay tôi tin rằng chuyện đời: hay không bằng hên vì có một đơn vị quân đội mà tôi được nhiều ưu ái, nhiều đồng đội xứng đáng để tôi ca ngợi yêu thương và biết ơn.
Trần Cẩm Tường
Tiểu Đoàn Trưởng TĐ1/48

Wednesday, September 15, 2010

Sư Đoàn 18 Bộ Binh và Những Ngày Tử Chiến tại Xuân Lộc (Hồ Đinh)

Kính tặng SĐ18BB, riêng Trung Đoàn 43BB và Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế (TDT/2/43)

Qua những tài liệu lịch sử đã bật mí, nên ngày nay ai cũng biết , trong suốt cuộc chiến Đông Dương lần thứ 2 (1960-1975),người Mỹ gần như cung cấp cho VNCH, tất cả vũ khí, quân trang, tiền bạc và những hệ lụy của cuộc đời mà bi thảm nhất là sự mất nước vào tạy cọng sản quốc tế. Theo sự chỉ trích gay gắt của Đô đốc Sharp, trong cuốn ' Strategy for defear ', vị tư lệnh đầu tiên của Đồng Minh tại Thái Bình Dương, thì sự thất trận tại VN vào ngày 30-4-1975, rõ ràng là cố ý, do những tên đầu nảo dân sự, ngồi tại Hoa Thịnh Đốn, tự trói một tay của quân lực Hoa Kỳ và Nam VN, trong khi ho đang tử chiến với khối cọng sản đệ tam quốc tế, qua tấm bình phong, mang tên Bắc Việt. Trên tạp chí Encounter tháng 8-1981, ký giả người Mỹ Robert Elegant , cũng đã hài tội bọn trí thức, khoa bảng và truyền thông Tây phương thiên tả, đã dùng vũng bùn văn, báo, truyền hình của mình, để giúp cọng sản đánh bại nước Mỹ. Ông đã chua chát nói thẳng với thế giới rằng :'ø Bắc Việt đã thảm bại trên chiến trường nhưng cuối cùng ngày 30-4-1975, người Việt quốc gia, đã phải mất nước tại Hoa Thịnh Đốn, Nữu Ước, Ba Lê, Luân Đôn, Huế và Sài Gòn , vì trận giặc báo chí, từ những cái miệng thúi vô liêm sỉ, chuyên bẻ cong ngòi bút, dựng đứng câu chuyện, để hại người . '

Ngày nay ai cũng biết hết những thành tích của QLVNCH, qua thời gian tồn tại suốt 20 năm máu hận (1955-1975) giữa biền thù trời lệ, giặc ngoài, giặc trong, giặc đâm sau lưng chiến sĩ., ngay cả trong lời kinh tiếng kệ và những ngón tay lần hạt đỏ, đen. Cũng nhờ người lính VNCH đã can trường anh dũng, trong suốt cuộc chiến, cho tới giờ phút cuối cùng tháng 4-1975, bị Dương văn Minh quyền tổng tư lệnh, dùng kỷ luật quân đội, bắt mọi người đầu hàng giặc, mới phải buông súng tan hàng. Nhờ vậy, mà một thế hệ sau của VN ngày nay tại hải ngoại, mới có cơ hội ngẩn mặt nhìn trời, lấy lại sự hãnh diện của cha anh trong cuộc sống lưu vong uất hận trùng hằng.

Tóm lại như bình luận của Luật sư Lawrence L.O'Brien trên The Wall Street Journal vào ngày 25-1-1983, chứng minh là từ sau ngày ký hiệp định ngưng bắn tháng 1-1973, nước Mỹ và quốc hội Hoa Ky,ø do đảng dân chủ phản chiến cầm chịch,kể cả cái gọi là Liên-Hiệp-Quốc, gần như ra mặt bưng bợ cọng sản. Bởi vì phần lớn, họ đã bị Nixon, Kissinger và Việt Cộng , du gạt, lừa bịp , dễ dàng như lừa con nít, qua cái thủ đoạn xảo quyệt, được tiếp tay công khai bởi bọn nhân danh, khoa bảng, trí thức ăn hại, khôn nhà dại chợ của miền Nam lúc đó Năm 1944, người Mỹ điều động 5000 quân xa, để chuyển Lộ quân 1 và 2 của Đồng Minh, xuyên nước Pháp, đánh Đức. Lúc đó và về sau, người Mỹ khoe là thành tích vỉ đại, để cho ai cũng biết và khen ngợi. Nhưng tại chiến trường Đông Dương, từ 1960-1975, khối cọng sản quốc tế , đã dùng 10.000 xe bộ đội, để đưa 20 sư đoàn từ Bắc Việt vào xâm lăng Miền Nam VN, qua đường rừng Trường Sơn. Rồi nhờ cái loa tuyên truyền của trí thức Miền Nam, đâm mù thế giới, nên rốt cục ai cũng tin và bảo đó là lực lượng của quân cách mạng Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Tất cả đều là thực chất của một cuộc chiến vừa đánh, vừa đàm hay đúng hơn là hành động con buôn chính trị của siêu cường Mỹ, giờ chót bán đứng Đồng Minh VNCH cho kẻ thù, đổi lấy sự liên kết chiến lược với Trung Cộng, gở lại lời vốn đã tiêu phí tại chiến trường nhiều trăm tỷ đô la và ngàn ngàn sinh mạng. Phải biết như vậy, chúng ta mới đánh tan được cái huyền thoại, tại sao Miền Nam sụp đổ chỉ có 55 ngày và cuối cùng, xin thương xót cho thân phận những người đã cầm súng chiến đấu tại miền Nam suốt 20 năm qua, quanh quanh chỉ là kẻ thù và khung cảnh xã hội vô ơn bạc bẻo. Đời sống của lính và vợ con, nhất là khi lính nằm xuống hay bị thương đui, què, tàn phế, có thua gì kiếp sống của gia cầm, vậy mà cứ bảo Lính mình đánh thuê cho giặc Mỹ ?. Tồi tệ hơn hết khi đi tìm sự thật, là câu chuyện người Mỹ trong lúcõ tháo chạy, đã dùng cái thủ đoạn ' ăn không được phải phá nát bấy', khi đưa cái bã vật chất an toàn, làm mồi để dụ dỗ một số cấp chỉ huy của QLVNCH, nhất là không quân, đào ngũ bỏ đơn vị, đem máy bay trả lại để được tới Hoa Kỳ. Chính sự tồi tệ trên, đã góp phần phá hủy tinh thần chiến đấu của quân lực VNCH, trong lúc nguy ngập. Sau rốt là việc sử dụng bom CBU đâu có trái với qui ước chiến tranh đã ký kết. Theo hai ký gia người Pháp thân cộng là Jean Lartégui và Pierre Darcourt, đã chứng kiến cảnh quân Bắc Việt bị chết ngạt tại Xuân Lộc, vì bom này, đã viết :' Miền Nam sẽ không mất, nếu Mỹ thả tiếp vài chục trái CBU vào đoàn quân xâm lược, đang công khai di chuyển trên các quốc lộ, thế nhưng Hoa Kỳ đã không làm '.

Mới đây, trong tác phẩm ' 55 days of the fall of South Vietnam', tác giả Alan Dawson, có nhắc tới hai tiểu đoàn còn lại của Nam VN, chừng 600 người, giữa trùng vây của Bắc Việt , sau khi QLVNCH được lệnh rút bỏ Xuân Lộc. Chuyện có thật nhưng Alan viết sai dữ kiện, vì giờ chót rút quân, không có một đơn vị nào, kể cả Nghĩa quân, bị buộc ở lại để bảo vệ Xuân Lộc, lúc đó không còn giá trị chiến lược, vì Bắc Việt đã tìm đường khác để tiến quân về Sài Gòn. Đơn vị bị kẹt lại, đó là Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 43, SD 18BB, do Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế làm Tiểu Đoàn Trưởng. Trong suốt những ngày tử chiến tháng 4-1975, TD2/43/18 có nhiệm vụ đóng trên Núi Thi., ngoại ô thị xã Xuân Lộc, để bảo vệ dàn pháo của Su Đoàn. Khi Tướng Lê Minh Đảo, tư lệnh Mặt Trận Long Khánh, nhận lệnh của Bộ Tổng Thanm Mưu QLVNCH, qua lệnh trực tiếp của Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn 3, ngay tại mặt trận, ' BỎ LONG KHÁNH' và triệt thoái tất cả các đơn vị đang chiến đấu, gồm SD18BB, Tiểu Khu Long Khánh, Lữ Đoàn1 Nhảy Dù, Biệt Động Quân..thì Tiểu Đoàn 2/Trung Đoàn 43/SD18BB là đơn vị cuối cùng, trong cuộc rút quân, vì còn có nhiệm vụ đánh nghi binh, chận đường, để giúp đại quân an toàn trở về cõi sống, nên bị thiệt hại nặng nề. Còn luật sư Nguyễn văn Chức thì dựa vào tài liêu của Hoàng Cơ Thụy và Frank Snepp, nên nói trực thăng tới bốc 4 tiểu đoàn còn lại của SĐ18BB, trong đó có Tướng Tư Lệnh Lê Minh Đảo, Đại T1 Trung Đoàn Trưởng TrĐ43/18 là Lê Xuân Hiếu, vì vậy bị 40.000 bộ đội Bắc Việt tràn ngập. Thật sự trong cuộc lui quân, từ tướng xuống tới hàng binh sĩ, không có ai được trực thăng tới bộc về, mà tất cả đều hành quân bộ. Lúc các cánh quân VNCH, hầu hết đã về gân như an toàn tại Bình Giả, Phước Tuy,thì TD2/43'18BB, chỉ một mình còn trong biển giặc như Alan Dawson mô tả. Sự thật là vậy đó, các nhân chứng như tướng Đảo, các Đại Tá Lược, Lến, Hiếu. Dũng, Công..của SD18), Đại Tá Phạm Văn Phúc-Tỉnh Trưởng Long Khánh, Đại Tá Đính , Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, các Tiểu Đoàn Trưởng thuộc SD18BB, có tham dự tra65n đánh và cuộc lui quân như Nguyễn Phúc Sông Hương, Ý Yên-Phan Tấn Mỹ, Đại Uý Lê Sơn, Chi Đoàn Trưởng Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh, các Đại Uý Đặng Phúc (Biệt Đội Quân Báo), Ngô Gia Hậu (Phóng Viên), Nguyễn Hào (Phòng 3.SD)..và nhất là Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2/TrD43/SD18BB, người từ cõi chết trở về, vào tù tại Bắc Việt và tới Mỹ qua diện HO..đều là những nhân chứng sống, có đủ tư cách, để nói và viết những sự thật lịch sử.

Tóm lại, đến giờ này, sự đau đớn nhất của người Lính Miền Nam, là thấy cái thân phận bọt bèo của chính mình, cứ bị đem ra mổ xẻ rao bán, bởi những người không hề biết gì về thực chất của đời lính, dù họ có là lính. Nhưng lịch sử vẫn là lịch sử, câu chuyện sử gia số 1 của nước Mỹ là giáo sư Joseph J.Ellis, tại Đại Học Mount Holyoke, vừa bị nhà báo Walter V. Robinson, lột mặt nạ trong bài báo ' Professors past in doubt ', đăng trên tờ Boston Globe ngày 18-6-2001, về những đề tài có liên quan tới Chiến tranh VN và sự Ellis dù ở trong quân đội Mỹ nhưng chỉ ngồi dạy học ở Hoa Kỳ., nên đã mao tôn cương, khi viết trận đánh không có đại bàng. Mới đây là bài học thất cử của ứng cử viên tổng thống Mỹ, thượng nghị sĩ John Kerry, cũng do chính khẩu nghiệp, đã làm hại thân mình.Việt Cộng và những kẻ lừa đảo ngòi bút, đã đến lúc phải đối mặt với những tra vấn của lương tâm, trong cuộc chiến VN vừa qua, vì cuộc chiến đấu thần thánh của QLVNCH, trách nhiệm bảo vệ quê hương, trong đó có SD18BB,LD1Dù,BDQ,DPQ và NQ Long Khánh..vào những ngày cuối tháng 4-1975, là câu chuyện lịch sử , trong dòng sinh mệnh của Dân Tộc Hồng Lạc, miên viễn sẽ không bao giờ bị phủ nhận của bất cứ một ai, qua thời gian hay miệng lưỡi nào, kể cả những lỗ miệng có gan có thép, nhổ ra nuốt vào của bọn văn cộng giặc cộng.

1-THÂN PHẬN NGƯỜI LÍNH VNCH TRONG 20 NĂM CHINH CHIẾN (1955-1975)

Sau ngày 30-4-1975, quê hương của người Việt quốc gia bị cọng sản quốc tế dô hộ hoàn toàn từ nam ra bắc, mọi người mới sáng mắt thấy rằng, không có một lãnh tụ nào của đảng, từ Hồ Chi Minh xuống tới chàng du kích, biết coi trọng sinh mạng của người dân, bởi vì nguyên tắc thành công của cọng sản, là chỉ có thẳng tay bắn giết , thì mới có sự phục tùng. Riêng chuyện dài VN, vì chính người dân lúc trước tự xiềng xích mình, để chui vào thiên đàng xã nghĩa, cho nên nay, cũng chỉ có người dân, tuy thầm lặng đứng bên vệ đường thời gian, nhưng lại là động lực chính, bẻ gãy được khóa cổng thiên đường mù, để trở về cuộc sống tự do no ấm của con người.

Ngày nay, mỗi lần đọc lại lịch sử, cảm thấy ngùi ngùi và thương xót biết bao cho dân tộc mình, bỗng dưng trở thành nhược tiểu, vì cả nước mù quáng nên bị Hồ Chí Minh, thắng một vụ lừa bịp bẩn thỉu nhất , trong dòng sử Việt, từ vụ cướp chính quyền tháng 8-1945, cho tời sự lãnh đạo của cọng sản trong chin năm kháng Pháp. Cũng từ đó, người Việt quốc gia coi như đứng trước ngã ba đường sinh mệnh và dù có chọn lối nào chăng nửa, rốt cục cũng chỉ dẫn tới địa ngục mà thôi.

Năn 1951, thống chế De Lattre de Tassigny sau khi chận đứng Việt Minh tại Vĩnh Yên, Bắc Việt, đã lên lớp người Việt lúc đó thụ động, hèn nhát, không chịu ra chiến trường để bảo vệ quê hương mình. Trong cuộc chiến Đông Dương lần 2 (1955-1975), thế giới bên ngoài, qua tuyên truyền từ báo chí của VC và truyền thông Mỹ, Tây Phương, nên đã đánh lận cuộc xâm lăng của cọng sản quốc tế, thành một tấn tuồng chống ngoại xâm của Hà Nội. Nữ ký già Ý là Oriana Fallaci , trước trận mùa hè đỏ lửa 1972, khi tới Hà Nội phỏng vấn, Võ Nguyên Giáp, mới biết Bắc Việt đã nướng trên 800.000 sinh mạng bộ đội tại Miền Nam, trong thời gian qua, trước khi tiếp tục nướng trong trận hè đỏ lửa 1972 và địa ngục Xuân Lộc tháng 4-1975. Điều này cho thấy là Cọng Sản không bao giờ thiếu nhân lực, tiếp tế lẫn tình báo. Ngược lại thì mai mỉa biết bao, trong cách đối xử của người dân ta đối với phe mình, nhất là những vùng bị giặc tạm chiếm hay là xôi đậu. Nói chung , Chính phủ VNCH trong suốt 20 năm, cố gắng gần như tuyệt vọng, chỉ mong mang lại cơ hội sống tự do, no ấm cho người dân, nhưng giống như ngày trước, vì quá khao khát độc lập, nên người dân đã khoán trắng cho họ Hồ và đảng . Lần nữa, trong cuộc chiến, họ cũng bỏ mất cơ hội cuối cùng. Nói như vậy để mọi người thấy rõ thân phận của người Lính Miền Nam, qua tấm lòng hy sinh cao cả, trong gần một phần tư thế kỷ, phải chiến đấu ở một chiến trường bất hạnh, thù nghịch, dù rằng những người Lính ấy, đã phải đem cái mạng sống cùng với hạnh phúc của cá nhân và gia đình mình, bảo vệ làng xóm, chùa nhà thờ và sinh mạng của người dân miền Nam, trong đó có nhiều kẻ đang chực chờ giết hại Lính. Dù vậy, bao nhiêu xương máu của QLVNCH nói chung, đã hy sinh vô cùng ý nghĩa, phần nào đã mang đến no âm tự do cho mọi người, dù chính quyền quốc gia chưa được toàn hảo trọn vẹn như mong muốn, trong thời gian 1955-1975.

Ra đời từ năm 1950 nhưng quân đội Quốc Gia VN, coi như chỉ được chính thức nhìn nhận bằng văn kiện hành chánh, trong ngày Quân Lực 19-6-1965. Sự nghịch lý này, phần nào nói lên những bất hạnh chồng chất, đã và sắp tới với một quân đội mang đầy máu lệ, ngay từ ngày thành lập. Sự lộng hành của báo chí và truyền thông Mỹ, gần như trong suốt cuộc chiến, đã trút hết căm hờn lên quân đội VNCH, làm tác hại ghê gớm đến tinh thần chiến đấu của người lính, đến nỗi nhà báo Mỹ là Robert Elegant phải ngao ngán viết rằng, chiến tranh VN trước hết đã thua trong trận giặc miệng và nước bọt tại hậu phương.

Ngày 17-4-1961, tổng thống Mỹ John F Kenedy, nghe xúi dại của CIA, dưa 1000 quân đổ bộ lên đảo Cuba, lật đổ Trùm Fidel Castro nhưng kế hoạch Bay of Pigs hoàn toàn thất bại, lực lượng đổ bộ bị bắt sống gần hết và Mỹ phải đem máy cầy cùng xe ủi đất, chuộc tù binh về. Thua me gỡ bài cào, Kenedy đem con thiêu thân Nam VN làm vật tế thần, gở thể diện. Sứ mệnh này, được giao cho Đại Tá Lansdale, mở cuộc chiến tranh bí mật (The Secret War) tại miền bắc VN và Lào, nói nôm na là màn đem con bỏ chợ. Tiếp tới là sự ngây thơ của Mỹ, dại dột ký thỏa ước trung lập Lào, giúp Bắc Việt mượn đường xăm lăng miền Nam. Cuối cùng là gởi 12.000 cố vấn sang Nam VN, sau khi bị Trùm đỏ Liên Xô là Khrushchev nhục mạ tại bàn hội nghi thượng đỉnh. Tóm lại như Edward Weintal và CharleBarlett viết trong ' Facing the Brink ', thì Kenedy đã nghĩ rằng đưa vài chục ngàn cố vấn vào VN, để buộc Hà Nội từ bỏ mộng cuồng xâm nhưng đó lại là sự điên rồ, để cho giặc có cái cớ, gây chiến tranh xâm lược VNCH mà thôi. Máu VN bắt đầu đổ từ đó, bởi sự ngông cuồng lếu láo của tổng thống Mỹ.

Với tổng thống Lyndon Johnson, thì tình trạng VN càng thê thảm hơn, vì rõ ràng khi lên thế chức tổng thống Hoa Kỳ, thay Kenedy bị ám sát, Johnson chỉ vì rất sợ bị đảng Cộng Hòa buộc tội quá nhu nhưọc khi đương đầu với cọng sản, nên đã đưa nước Mỹ và Miền Nam VN vào một cuộc chiến tranh kỳ lạ nhất trong lịch sử , với sách lược ' không cho thắng '. Như John Fisher, đô đốc của Anh đã viết :' thực chất của chiến tranh là tàn bạo, đánh giặc mà cầm chùng là ngu xuẩn, nên muốn đạt chiến thắng, phải đánh mạnh và đánh khắp nơi '. Theo các nhà quân sử, trong chiến tranh VN, Mỹ chỉ cần phong tỏa đường biển, oanh tạc biên giới Việt-Hoa-Lào và cho lệnh QLVNCH tấn công trả đũa vào Bắc Việt, thì giặc đã yên từ lâu. Nhưng Johnson thì làm ngược lại, hạn chế tối đa các mục tiêu trên lãnh thổ Bắc Việt, với lý do sợï chọc giận Bắc Kinh. Tại Lào, các căn cứ của Bắc Việt được coi là bất khả xâm phạm, cấm tấn công . Đồng thời Johnson đưa đề nghị viện trợ kinh tế, dụ Việt Cộng chấm dứt xâm lăng Miền Nam, nên đã bị giặc Cộng khinh bĩ xem thường, vì đã biết được con bài tẩy 'kém nhất' trong quân bài Domino, chính là siêu cường Hoa kỳ, mà khối cọng sản lúc đó ngạo là con cọp giấy..

Với tổng thống đảng cọng hòa Richard Nixon , ngoài bệnh chủ quan, tự tin, tự tôn của Kennedy, Johnson còn là một tổng thống Mỹ liên hệ sâu đậm nhất trong chiến tranh VN, bị kết tội là kẻ xảo quyệt, bội tín, bất nhân, nên dân chúng Mỹ ghét nhất . Do thành tích bán đứng Nam VN cho cọng sản đệ tam quốc tế vào ngày 30-4-1975, cũng như tội đã liên kết với trùm đỏ Mao Trạch Đông năm 1972,vì lợi lộc của Mỹ mà phản bội thế giới tự do, nhân quyền, nên sau 25 từ chức tổng thống , được các nhà báo Mỹ xếp hạng, chỉ đứng trên tổng thống trốn quân dịch là Bill Clinton.

Thành tích khôi hài nhất của cặp Nixon-Kissinger là chủ thuyết ' Nixon', hay 'VN hóa chiến tranh', thực chất là cuộc chạy làng, bỏ bạn, vô liêm sỉ của một siêu cường số 1 lúc đó và ngay cả bây giờ. Nói rõ hơn, Nixon chỉ vì quyền lợi cá nhân, nên tuyên bố ' đơn phương' rút quân , trong lúc đang hợp đồng chiến đấu với nhiều quốc gia khác. Đây là một sự lố bịch và còn tàn nhẫn đối với sự sống chết của VNCH. Trước tin này, Hà Nội chỉ cần ngồi chờ để thừa cơ đánh lén. Riêng những màn dội bom và đánh vào mật khu Mõ Vẹt tại Kampuchia năm 1970, Hạ Lào 719 cũng là những trò bịp, dùng máu xương của QLVNCH lót đường cho cặp Nixon-Kissinger , mua thời gian cho quân Mỹ về nước sớm hơn hai năm, trước khi Nixon tái ứng cử vào năm 1972. Trong hồi ký ' A Sldier's Report ' của tư lệnh Mỹ tại VN, tướng Westmoreland đã vô cùng cảm phục và thương xót người lính VNCH, tham dự trong chiến dịch Lam Sơn 719. Ông đánh giá cao QLVNCH, khi cho biết, chính kế hoạch này là của Kissinger, định dùng 60.000 quân Mỹ nhưng rồi thấy không chắc thắng trận, nên đã bỏ ý định và bắt ép tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thi hành. Theo sử liệu, trong trận này, VNCH chỉ có 17.000 quân và dù bị tổn thất nặng, do Mỹ thất hứa không yểm trợ đủ hỏa lực pháo và không yểm, nhưng Sư Đoàn 1 Bộ Binh cũng đã đạt được mục đích cuối cùng, là đặt chân vào cứ điểm Tchepone như Nixon mong muốn.

Tóm lại suốt cuộc chiến 1960-1975, người Mỹ lúc nào cũng muốn QLVNCH chiến thắng cọng sản quốc tế, trong khi chính mình không làm được. Vô lý hơn là bó buộc người lính Miền Nam phải chiến đấu, trong khi không cung cấp đầy đủ vũ khí, quân dụng, kể cả việc ngăn cấm không cho tấn công giặc. Chưa hết, chỉ vài ngày sau khi Nixon nhậm chức tổng thống lần 2, thì quốc hội đảng dân chủ Hoa kỳ, đã cắt xén những hứa hẹn mà Nixon hứa với Nam VN trước khi VN hóa. Tồi bại nhất là quốc hội của đảng dân chủ, đòi Nixon phải tiết lộ bí mật quốc phòng, để kịp báo cho Hà Nội , tấn công VNCH. Cuối cùng lý do mà Việt Cộng phải ký với Mỹ tại Ba Lê tháng 1-1973, nói chung là không còn chịu nổi những đợt oanh tạc khủng khiếp và hàng rào thủy lôi quanh hải cảng Hải Phòng nhưng trên hết, theo tố cáo của nhân chứng Stephen Young, vì cặp Nixon-Kissiger cam kết với VC, là sẽ không đòi quân Bắc Việt rút về lại bên kia vỹ tuyến 17 như tinh thần hiệp định Genève 1954, nên Hà Nội mới ký THỎA HIỆP BỊP, còn Mỷ thì ký BẢN KHAI TỬ VNCH. Sau này chính Stephen Young đích thân tới hỏi Nixon, có biết Kissinger tự ý sửa ' Bản đề nghị ngưng bắn của đại sứ Mỹ ở VN là Bunker không ', Nixon trả lời ' KHÔNG '. Một điều bí mật khác, là Kissinger trong thời gian hành sử chức vụ Tổng Trưởng Ngoại Giao và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia cho TT.Mỹ, đã hoàn toàn học theo đúng sach lược của tên điệp viên Pháp thân cộng Jean Saintery ( đại diện phe De Gaulle năm 1945 ), một kẻ đã từng hợp tác với Hồ Chi Minh, để thực dân Pháp công khai trở lại Bắc Việt năm 1946. Chính Saintery đã chỉ dậy bài bản , giúp Kissiger bán đứng Nam VN cho Hà Nội, gián tiếp trả thù việc chính phủ VNCH theo Mỹ, hất chân thực dân ra khỏi đất Việt.

Cũng liên quan tới Người Lính VNCH, qua tài liệu của MACV mới phổ biến, cho biết, suốt cuộc chiến, Nam VN đã có nhiều binh sĩ đào ngũ nhưng đó lại là một điều rất kỳ lạ, vì Lính đào ngũ không phải để đầu hàng Việt Cộng, mà họ muốn trở về nguyên quán đầu quân vào các đơn vị địa phương, để chiến đấu gần gia đình mình. Tình yêu quê hương của người Việt là vậy đó, chỉ khi nào không còn con đường nào khác để lựa chọn, họ mới đành gạt lệ bỏ xứ mà trong đau khổ. Cho nên đâu lạ, năm 1954, chia đôi đất nước, không riêng gì 300.000 binh sĩ và gia đình của Quân đội Quốc Gia, mà còn cả triệu người dân bình thường khác, đứt ruột, lìa nơi chôn nhao cắt rún ở miền Bắc, để di cư vào Nam, vì họ không muốn sống chung với cọng sản bạo tàn. Còn Dwight Owen cố vấn My,õ thì nói QLVNCH không có những thứ tối thiểu mà các quân đội nước khác có, từ lương bổng, khẩu phần hành quân, nghĩ phép..tới tình thương làng xóm. Chính những điều này làm giảm sút tinh thần và hiệu năng chiến đấu. Nhưng tất cả cũng đều là phép lạ, khiến cho người lính Miền Nam vẫn tiếp tục chiến đấu cho đến giờ phút cuối cùng tại Sài Gòn, trong khi Quân Đoàn 4 vẫn an toàn và chờ Chính phủ trung ương di chuyển tới, để lại tiếp tục chiến đấu, thì có lệnh buông súng đầu hàng giặc. Tổng thống Nixon những ngày cuối đời, trong tác phẩm ' No more Vietnams ' nói rằng nếu tin vào báo chí Hoa kỳ, thì VNCH không còn tồn tại sau khi Mỹ rút quân hoặc khi Mỹ chưa tới giúp. Điều này cho thấy QLVNCH rất anh dũng, kiêu hùng và qua những bản phân tích quân sự khách quan, thì lính miền nam giỏi gấp 10 lần bộ đội miền bắc về mọi mặt, kể cả nhân cách và tình người. Phân tích gia Allan Goodman, năm 1983 trong cuộc hội thảo đề tài rút kinh nghiệm chiến tranh VN, quy tụ 50 học giả, tại Smithsonian Hoa Kỳ, đã ca tụng tinh thần chiến đấu anh dũng của người lính miền nam, họ đã tử trận trên 200.000 người và hơn nửa triệu thương binh. Nhưng có lẽ mai mỉa nhất là lời của Lewis Walt, tướng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã viết :

' Không phải ngồi biểu tình, ăn chơi,trốn lính đi tu hay làm báo, viết văn, lấy Mỹ tại Sài Gòn-Huế, mà có một con số chết và bị thương như vậy'.

2-SƯ ĐOÀN 18BB VÀ CÁC ĐƠN VỊ TĂNG VIỆN, TỬ CHIẾN VỚI CỌNG SẢN QUỐC TẾ TẠI XUÂN LỘC THÁNG 4-1975 :

Sau ngày Sài Gòn thất thủ, ngày 2-5-1975 Peter Kahn chủ bút Wall Street Journal, giải báo chí Pulitzer, đã viết bài truy điệu Nam VN đăng trên báo này ' Quả thật sau cùng, quân lực VNCH đã rã ngũ vì tuân theo lệnh của tổng tư lệnh quân đội lúc đó, là tổng thống hai ngày Dương Văn Minh. Nhưng đó không phải là một quân lực hèn nhát hoặc vô dụng, vì có một vài phần tử quan quyền đào ngũ chạy theo Mỹ. Sự thật , quân đội VNCH rất vững mạnh và chiến đấu dũng cảm khắp các mặt trận, đăc biệt là từ mùa hè đỏ lửa 1972 tại Quảng Trị, Kon Tum, Bình Định và An Lộc. Đó là một quân đội xứng đáng được biết ơn, ca tụng vì đã giữï được từng mảnh đất quê hương, trước cuộc xâm lăng của cọng sản quốc tế, trong nhiều năm qua. Và cuối cùng vào những tuần lễ chót của tháng tư, khi người Mỹ đã chấp nhận đầu hàng giặc, thì người Lính VNCH vẫn tiếp tục chiến đấu khắp nơi, và mặt trận XUÂN LỘC đã trở thành mồ chôn tập thể của những kẻ xâm lăng, bạo tàn. Nhờ vậy, một số người , VN lẫn My,õ mới có cơ hội trốn chạy ra ngoại quốc, thoát được cảnh tù đầy địa ngục, chốn nhân gian cùng khốn tận tuyệt của cõi đời, khi rợ Hồ từ miền Bắc vào Nam làm chủ. Một số it này, hiện nay, dù đã cuối đời nhưng vẫn không giữ nổi khi phách và danh phận của đấng trượng phu, tướng lãnh, trí thức , khi đã quay lưng phản bội dân tộc, bôi mặt hợp tác với giặc, đề dầy xéo thêm nỗi đau tận tuyệt của đồng bào mình trong suốt 30 năm quốc hận, đối lấy chút hư danh cặn thừa trong vũng bùn ô uế xã nghĩa. Đây là những hình nộm nói tiếng người, hằng ngày được VC bêu xấu trên báo chí, để miệng đời bôi bác rủa trù, chẳng những riêng chúng, mà lây xấu tới con cái dòng họ.

Tháng tư ở Long Khánh, trời thường đổ những cơn mưa rào như trút nước, nhiều lúc lính đang hành quân trong rừng, có cảm tưởng như mình đang lênh đênh bơi trong biển khổ của cuộc đời.

Và tháng tư năm 1975, trời hình như biết trước cơn bão táp của miền Nam, nên đổ mưa rất sớm. Trong mưa có gió, nên khiến cho cả thị xã Xuân Lộc, đỏ ối một màu vì xác hoa phượng vĩ ven đường, bị gió mưa dồn dập.

'..đêm nay Xuân Lộc, vầng trăng khuyết

như một vành tang trắng đất trời

chân theo quân rút, hồn ta ở

nghe nước La Ngà cuồn cuộn trôi

..em ơi tiếng tắc kè thê thiết

gọi giữa đêm dài quá lẽ loi

chân bước, nửa hồn chinh chiến dục

nửa hồn Xuân Lộc, gọi quay lui..'

( thơ của Nguyễn Phúc Sông Hương).

Xuân Lộc là chiếc nôi đầu đời, mà người lính Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 43 Biệt Lập, của Đại uý Ngô Văn Diệp, từ miền xa cao nguyên Di Linh, tới hành quân và tru đóng vào giữa tháng 4-1964, coi như là đơn vị tiền phương thành lập Sư Đoàn 10 bô binh vào ngày 16-5-1965, gồm ba Trung Đoàn biệt lập, kỳ cựu của quân lực VNCH là Trung Đoàn 43, 48 và 52.

Trung Đoàn 43 bô binh thoát thai từ Trung Đoàn 404 thành lập tại Phan Thiết ngày 1-8-1954, trước khi biệt lập, trực thuộc SD5 khinh chiến, từng tham dự các chiến dịch Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Huệ..tại Nam Phần vào năm 1955. Trung Đoàn 48 bộ binh thoát thai từ Trung Đoàn 203 bộ binh, gồm các tiểu đoàn 47, 702 và 52. Sau đó cải thành Trung đoàn 48 bộ binh, thuộc Sư Đoàn 16 khinh chiến, gồm các Trung Đoàn 46, 47 và 48. Năm 1958 qua đợt cải tổ, SD16 khinh chiến bị bãi bỏ, các Trung Đoàn 46,47 và 48 trở thành biệt lập. Sau này, Trung Đoàn 47 bô binh cùng với Trung Đoàn 43 qua nhiều lần hoán đổi đơn vị, để trực thuộc SD23 bộ binh, cuối cùng Trung Đoàn 46 thuộc SD25BB, Trung Đoàn 47 thuộc SD22 BB và Trung Đoàn 48 thuộc SD 18BB. Riêng Trung Đoàn 52 được thành lập ngày 1-12-1954 tại Đệ 1 Quân Khu, gồm các Tiểu Đoàn 54 BVN, 704 và 713. Về Trung Đoàn này, ngày 14-2-1968, tướng Wheeler, chủ tịch Liên quân Mỹ,khi trả lời với báo chí,trong cuộc điều trần trước Hạ Viện Mỹ, là sáng nay tướng Westmoreland có báo, là đã tới thăm Trung Đoàn 52 biệt lập, đóng ở phía nam Đà Nẳng, để chúc mừng và tưởng thưởng cho Họ vì đã chận đứng được Sư Đoàn 2 Bắc Việt , trong mưu toan chiếm Đà Nẳng, vào Tết Mậu Thân. Hai tiểu đoàn nổi tiếng nhất của SD18/BB là TD2/43 của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế và TD1/52 của Đại Uý Nguyễn Văn Út, nhiều lần được vinh danh trước quân đội, vì thiện chiến và là đơn vị bắn cháy nhiều xe tăng của Bắc Việt tại trận địa. Năm 1974, hai chiếc T54 và PT76 của Bắc Việt, bị hai đơn vị trên bắn cháy, được kéo về làm kiểng trước sân Dinh Độc Lập, sau khi mất nước, mới bị VC phi tang.

Sư Đoàn 10 BB sau đổi thành SD18BB vào ngày 1-1-1967 qua đề nghị của Tư lệnh lúc đó là Chuẩn tướng Đổ Kế Giai. SĐ mang phù hiệu Nỏ Thần, đang lướt trên hai nền màu xanh da trời đậm và lợt, tượng trung cho bước chân của lính trong cõi mông mênh cùng tận, mà Nguyễn Cộng Trứ khi đề cập tới chí nam nhi, đã viết : ' tang bồng hồ thỉ nam nhi trái, làm cho bách thế lưu phương, trước là sĩ sau là khanh tướng '. Từ năm 1965-1969 qua các tư lệnh như Đại Tá Nguyễn Văn Mạnh (16/5/1965-10-8-1965), Chuẩn Tướng Lữ Lan (10/8/1965-15/9/1966), Đại Tá Đổ Kế Giai (15/9/66-20/8/69), trong giai đoạn này, Sư Đoàn 18BB bao vùng Khu 31 Chiến Thuật, gồm các tỉnh Bình Tuy, Long Khánh, Biên Hòa, Phước Tuy và Đặc Khu Vũng Tàu, thuộc Vùng III Chiến Thuật. Từ ngày 20-8-1969 tới 4-4-1972,tư lệnh là Thiếu tướng Lâm Quang Thơ, vì bị Quân Đoàn III, chia chặt thành từng mãnh, tăng phái khắp nơi, dưới quyền của các SD5 và 25 BB, nên binh sĩ có mặc cảm là đơn vị trừng giới, khiến cho SD18BB, bị xếp hạng chót trong bảng xép hạng đơn vị thuộc QLVNCH..

Cá sống nhờ nước, lính chiến đấu giỏi khi gặp được cấp chỉ huy tài ba, can trường, thương lính và trên hết phải biết lội với lính trước súng đạn.. Ngày xưa, qua huyền thoại, điển tích và sách vở, ta biết giai nhân cùng danh sĩ, như có duyên nợ với nhau từ tiền kiếp. Dương Chí Hoán đời Đường, nổi danh nhờ một ca kỹ hát bài Lương Châu Từ của mình. Tô Đông Pha làm giúp một bài phú cho ca nhi Triệu Vân, mà lấy được một người vợ tài hoa ý hợp nhưng cảm động hơn hết, có lẽ là Giang Châu Tư Mã-Bạch Cư Dị (772-846), trong một đêm mưa rơi tầm tả, tiễn bạn trên Bến Tầm Dương, tình cờ gặp lại người ca kỹ năm nào nổi danh tài sắc chốn Trường An, qua một bản đàn tuyệt diệu, Danh Sĩ đã cảm hứng viết Trường Ca ' Tỳ Bà Hành' cổ kim bất hủ.

Trong đời binh nghiệp cũng vậy,suốt cuộc chiến VN, những nguời lính nhảy dù, biệt kích, thủy quân lúc chiến, biệt động quân..được đồng bào miền nam thân thương quen gọi là các thiên thần, bởi vì hầu hết các đơn vị trên đã có nhiều cấp chỉ huy tài ba can trường. Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Đại Tá Ngô Tấn Nghĩa..luôn hòa mình với thuộc cấp của mình tại các tiền đồn hẻo lánh,bên những đơn vị nghĩa quân, cảnh sát dã chiến,xây dựng nông thôn và địa phương quân tại chiến trường.Nhờ vậy hai tỉnh Chương Thiện-Bình Thuận, bị cọng sản quậy phá nhiều nhất, lại là hai địa phương an ninh hạnh phúc cho tới 30-4-1975. Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu (1967-1975) dù bị lịch sử phán xét thế nào cũng kệ nhưng rõ ràng nhất, ông là một cấp lãnh đạo can đảm, biết chia xẻ gian lao, máu lệ với người chiến sĩ đang lăn xả trong bom đạn sa trường nguy hiểm nhất, ngay lúc trận tuyến chưa im tiếng súng, tại Quảng Trị, KonTum, An Lộc, Bình Định..Tương tự, những người lính Nỏ Thần Miền Đất Đỏ, đã tao phùng-kỳ ngộ với một cấp chỉ huy năng động, thích hợp với những lính biệt lập 43,48 và 52 đã từng bị đầy ải khắp mọi miền đất nước, đâu có khác gì các Đơn Vị Biệt Động Quân Biên Phòng, Biệt Lập, không biết ai là Cấp Chì Huy tối cao của mình. Đây cũng là một trong những yếu tố then chốt, đã vực dậy một Đại Đơn Vị sắp quỵ vì quá nản phiền. Nhờ đó mà SD18BB từ đội đít, lần lần dọc ngang và cuối cùng, đứng ưỡn ngực với các Đơn Vị khác của Quân Lực trong bảng xếp hạng cuối đời.

Ngày 4-4-1972, Đại Tá Lê Minh Đảo làm Tư Lệnh SD18BB, thế Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ. Gọi là Sư Đoàn Trưởng cho oai, chứ lúc đó quân số còn lại của SD18BB vỏn vẹn chỉ có DD18 Trinh Sát, DD48 Trinh Sát và 1 Tiểu Đoàn của Trung Đoàn 48BB. Tất cả lính của Sư Đoàn từ Thiết Đoàn 5 kỵ binh, Trung Đoàn 43, 48, 52 đều bị Quân Đoàn III xử dụng, tận góc biển chân mây, khiến cho Tư Lệnh SD18BB lúc đó, thật ra còn thua Tiểu Đoàn Trưởng, vì trong tay không còn một đơn vị nào thuộc về mình., để chỉ huy xử dụng.

Khởi sự từ con số không, Tướng Đảo, một sĩ quan thường bị cười nhạo là hành chánh vì quẩn quanh chỉ làm quận trưởng, tỉnh trưởng. Nhưng đó là một nhận xét có ác ý ganh tỵ, vì qua kinh nghiệm lịch sử cận đại VN, không thiếu gì những vị tá, tướng..một đời lăn xả ngoài trận mạc, vẫn không được đời xưng tụng là tài giỏi. Để chứng minh người thật việc thật, tri hành phải hợp nhất, qua việc hành sử lúc ban đầu, với số đơn vị ít ỏi trong tay, đã biết khôn khéo, cũng như bỏ cái quan niệm ' lính chính quy-lính bảo an', trong việc phối hợp hành quân cùng các Đơn Vị Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và Bình Định Xây Dựng Nông Thôn, kể cả Cảnh Sát Dã Chiến (Lúc đó toàn là chủ lực quân biệt phái hay thuyên chuyển về gần nhà).. tại các Tiểu Khu Long Khánh, Phước Tuy, nên chỉ một thời gian ngắn đã bình định xong vùng này. Rồi thì lần lượt Quân Đoàn III, trả lại các Trung Đoàn cơ hữu của SD18BB cho tướng Đảo. Lúc đó,Trung Đoàn 52BB, đang hành quân tại Bình Long, Trung Đoàn 48BB trách nhiệm giữ nhà, nên chỉ còn Trung Đoàn 43 của Trung Tá Lê Xuân Hiếu, cùng tư lệnh là Đại Tá Đảo, xông pha hầu hết các miền đất dử của VC lúc bấy giờ , dẹp tan chiến khu Chà Rầy, Trung Lập, Củ Chi để giải vây cho quận Trảng Bàng. Tiếp đến, Trung Đoàn 43 và Tướng Đảo lại vào Bến Súc, Dầu Tiếng, giải vây Đồn Điền Michelin, giữ được con đường huyết mạch từ Bình Dương-Bến Cát, mà trong trận Mùa hè đỏ lửa 72, quân tiếp viện của ta sử dụng để vào An Lộc.

Tới cuối tháng 6-1972, SD5BB của Tướng Lê Văn Hưng, tuy vẫn giữ vững An Lộc nhưng đã bị tổn thất nặng nề, nên được điều động ra khỏi trận địa. Các đơn vị tăng phái của Vùng 4 CT như SD21BB, Trung Đoàn 15/SĐ9BB..cũng được trả về bản địa. Do trên, Quân Đoàn III, sau khi hoàn lại đủ quân số cho Tướng Đảo, đã điều động toàn bộ SD18BB vào An Lộc, phối hợp với Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân của Trung Tá Ngô Minh Hồng, chiếm lại toàn vẹn lãnh thổ Bình Long. Tháng 12-1972, sắp đến ngày ký Hiệp Định Paris, nên VC lại ồ ạt dành dân chiếm đất, vì vậy QDIII giao Bình Long-An Lộc cho Biệt Động Quân và sử dụng SD18BB như một đơn vị Tổng Trừ Bị của Quân Đoàn. Thời Trung Tướng Phạm Quốc Thuần thay Tướng Nguyễn Văn Minh làm Tư Lệnh QDIII, ngày 7-11-1973 đã cho tái lập lại Lực Lượng 3 Xung Kích, trước sau vẫn do Chuẩn Tướng Kỵ Binh Trần Quang Khôi, là một trong những tướng lãnh tài ba, anh hùng của QLVNCH chỉ huy. Đại đơn vị này có bảng cấp số tương đương với một sư đoàn bộ binh nhưng về hỏa lực có phần hùng mạnh hơn vì được phối hợp tác chiến giữa bộ, thiết giáp và pháo binh., gồm 3 Chiến Đoàn Thiết Giáp 315,318 và 322. Các Chiến Đoàn đều tổ chức giống nhau, gồm 1 Tiểu Đoàn BDQ, 2 Chi Đoàn Thiết Vận Xa 113, 1 Chi Đoàn Chiến Xa M48, 1 pháo đội cơ động 105 ly gắn trên xe M548 và 1 Trung Đội Công Binh. Đây là đơn vị trừ bị thứ 2 của QDIII, sau ngày ký hiệp định Ba Lê năm 1973. Từ đó chiến cuộc càng ngày càng tàn khốc, Bắc Việt ngoài số bộ đội có sẵn được Mỹ cho ở lại, còn có nhiều sư đoàn khác cũng ào ạt vào Nam, vì đường mòn Hồ Chí Minh coi như đã bị bỏ ngõ, tấn công khắp mọi nơi nhưng dữ nhất vẫn là những địa danh sát nách Sài Gòn như Định Quán, Củ Chi, Tam Giác Sắt, Phước Tuy..hầu hết những vùng trên đều thuộc trách nhiệm của SD18BB. Tóm lại, từ năm 1972 tới đầu năm 1975, SD18BB dưới quyền của Tướng Lê Minh Đảo, gần như xông pha trăm trận, nên đã hy sinh rất nhiều quân nhân các cấp. Nhờ vậy mà người lính Nỏ Thần đã trưởng thành trong khói lửa, quân kỳ của Sư Đoàn được gắn nhiều anh dũng bội tinh, mang giây biểu dương màu quân công bội tinh, nhờ niềm hãnh diện đó, dân và lính miền đất đỏ, đã đánh một trận cuối cùng với giặc tại Xuân Lộc, vừa rửa hận cho Dân-Nước, vừa lưu danh ngàn đời trong Việt Sử, chống ngoại xâm do Bắc Việt mang từ Nga-Tàu về.

Tháng 4-1974, Thượng Viện Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ cho Nam VN. Tại chiến trường, Bắc Việt xé bỏ hiệp ước vừa ký tại Ba Lê năm 1973, tấn chiếm Thường Đức và Trại Tống Lê Chân. Ngày 9-8-1974, Nixon từ chức tổng thống vì vụ Watergate mang theo hẹn hứa giúp VNCH xuống mồ, vì Ford lên thay không bao giờ đếm xỉa tới., hoặc có muốn giúp miền Nam, thì nói cũng chẳng ai nghe, vì ông không phải là vị tổng thống do dân bầu lên theo luật định.

Trước tình hình hỗn độn chính trị tại Mỹ,Bắc Việt tấn công và chiếm tỉnh Phước Long nhưng Hoa Kỳ vẫn im lặng, còn Ford theo B.Paulmer trong ' The 25 th year war ' năm 1984, đã tuyên bố là Hoa Kỳ dứt khoát không can thiệp vào chiến tranh VN. Thế là Hà Nội hồ hởi xâm lăng Miền Nam. Ngày 10-3-1975 đánh thành phố Ban Mê Thuột. Ngày 14-3-1975 rút bỏ cao nguyên bằng Liên tỉnh lộ 7, Pleiku-Phú Bổn-Phú Yên. Ngày 20-3-1975 bỏ Huế, Quảng Trị. Nói chung hai cuộc lui quân, làm hàng trăm ngàn đồng bào vô tội, gia đình binh sĩ , chết và bi thương thảm thiết vì hỏa lực của cọng sản, bắn nhắm vào những người dân lánh nạn, trong đó phần lớn là người già, đàn bà, trẻ thơ vô tội. Tổng thống Thiệu, Thủ Tướng Khiêm, Đại Tướng Cao Văn Viên..chỉ một phút quyết định ngắn ngủi tại Cam Ranh đã làm mất 2/3 lãnh thổ, hủy diệt một nửa lực lượng quân lực tinh nhuệ của VNCH, trong đó có các Đại đơn vị ưu tú như SD Dù, Thủy Quân Lục Chiến, SD1,23 BB và các Liên Đoàn BDQ..Như vậy sau ngày 2-4-1975, Quân Đoàn 1 mất hẳn, QD2 chỉ còn Ninh Thuận-Bình Thuận, nên sáp nhập vào Quân Đoàn III. Phan Rang-Phan Thiết và Xuân Lộc, trở thành vùng hỏa tuyến, vì là cửa ngỏ ( quốc lộ 1 - 20), để Bắc Việt vào Sài Gòn.

Để tấn công Long Khánh -Xuân Lộc, cọng sản quốc tế Bắc Việt, tung vào chiến trường Quân Đoàn 4, gồm 3 Sư Đoàn 6, 7 và 341 và Sư Đoàn 7 Việt Cộng, do tướng Bắc Việt là Hoàng Cầm và Hoàng Thế Thiệp chỉ huy. Về VNCH, ngoài SD 18 BB với các Trung Đoàn 43 của Đại Tá Lê Xuân Hiếu, Trung Đoàn 48 của Trung Tá Trần Minh Công, Trung Đoàn 52 của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng, Thiết Đoàn 5 của Trung Tá Nguyễn văn Nô, Tiểu Khu Long Khánh của Đại Tá Phạm văn Phúc và các Đơn vị tăng phái như Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù của Đại Ta Nguyễn văn Đỉnh, đặc biệt là Tiểu Đoàn 82 BDQ, thuộc LD24BDQ , của Thiếu Tá Vương Mộng Long, từ Quảng Đức, Lâm Đồng di tản về Xuân Lộc..cùng với các SD 3,4 và 5 Không Quân, kể luôn các đơn vị Truyền Tin, Công Binh., đả đánh với quân xâm lăng cọng sản quốc tế, một trận để đời , như các trận Chí Lăng, Bạch Đằng, Chương Dương, Xuân Kỹ Dậu, Rạch Gầm Xoài Mút, mà tổ tiên ta đã lưu lại nghìn đời muôn kiếp cho con cháu sau này, trong dòng sử Việt..

Ngày nay đọc những trang sử trong cũng như ngoài nước, từ người thương cho đến kẻ thù Việt Cộng, kể cả bọn ăn cơm quốc gia thờ Hồ tặc, tất cả đều hớn hở hoặc cúi mặt, kính chào và ngưỡng mộ, cuộc chiến đấu thần thánh của người lính VNCH, trong lúc đất nước đã tận tuyệt, gần hết cấp lãnh đạo tối cao cõng vợ con và vàng bạc chạy theo Mỹ để cầu sinh, giữ chức. Giữa giờ thứ 25, trong lúc bên ngoài thì Đồng Minh phản bội, bên trong đầy rẩy bọn trí thức, cha-sư, đầu hàng giặc Cộng, toa rập trù dập và đâm sau lưng người lính trí mạng.

Trong ' Đại thắng mùa xuân', Văn Tiến Dũng, tổng tư lệnh bộ đội cọng sản Bắc Việt, đã thú nhận rằng ' Mặt trận Xuân Lộc vô cùng ác liệt và đẫm máu ngay từ ngày đầu tiên. Các sư đoàn 6,7,341 của ta, dù đã tấn công nhiều lần vào thành phố Xuân Lộc, nhưng nhiều lần đều gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của Trung Đoàn 43 địch, nên bị tổn thất nặng nề. Các đơn vị pháo của ta, đã sử dụng nhiều hơn cơ số đạn dược dự trù. Số lớn tăng và xe bọc thép bị bắn cháy..' , còn D.Todd người ký giả Pháp thân cộng, trong tác phẩm ' Cruel April, the fall of Sai Gon ', đã viết ' tinh thần binh sĩ tại Xuân Lộc rất cao, hệ thống truyền tin rất tốt, các đơn vị Dù và BDQ đã đến, đường Sài Gòn được thông. Các Sĩ quan QLVNCH đang gọi pháo binh và không yểm rất chính xác và nhanh chóng. Tình trạng chiến đấu của họ, gần giống như lúc còn quân đội Mỹ yểm trợ..'

Như vậy qua hai lời phê phán trên, ta biết mặt trận Xuân Lộc vô cùng ác liệt và tinh thần chiến đấu của người lính VNCH dũng mãnh phi thường. Được như vậy, trước hết theo lời của tướng Lê Minh Đảo, tư lệnh Sư Đoàn 18 BB cũng là Tư lệnh Mặt Trận Long Khánh -Xuân Lộc từ ngày 8-4-1975 tới ngày 20-4-1975, đó là tinh thần của người lính quyết tâm chiến đấu tới cùng, vì từ trên xuống dưới không một ai đào ngũ hay bỏ theo giặc. Thứ hai do ta chủ động trận địa và sau rốt là tinh thần binh sĩ ổn định, khi thấy gia đình mình đã được di tản về hậu phương an toàn tại Biên Hòa.

* CHIẾN TRƯỜNG XUÂN LỘC *

Chiến trường Xuân Lộc gồm 3 mặt trận chính : Mặt trận Ngã ba Túc Trưng,, thành phố Xuân Lộc và Khu vực Núi Chứa Chan-Gia Ray. Do nắm được tình hình chính sự, biết chắc khi Phan Thiết-Lâm Đồng thất thủ, Bắc Việt sẽ xuyên qua QL1 và 20 để về tấn chiếm Sài Gòn. Do trên Xuân Lộc sẽ là chiến địa đẫm máu. Biết như vậy, cho nên tướng Đảo sớm chuẩn bị trận địa để chờ. Trườc hết, khuyến khích dân chúng có phương tiện, nên về lánh nạn binh lửa ở Biên Hoà hay Sài Gòn. Đồng thời cho di chuyển trại gia binh, bệnh viện, thương bệnh binh cùng các phòng sở chuyên môn về hậu cứ tại Long Bình, làm một đầu cầu tiếp vận từ Trung ương tới Chiến trường. Tại Long Khánh, tướng Đảo cho sửa sang tất cả các phòng tuyến trong cũng như ngoài thị xã, đào giao thông hào khắp nơi, để chuẩn bị chiến đấu lâu dài. Chiếm lại tất cả các vị trí cao quanh Xuân Lộc, để quan sát địch từ mọi hướng. Đem tất cả pháo dấu trong các vị trí đào sẵn, một số câu lên núi Thị và giao cho TD2/43 cuả Thiếu Tá Nguyễn Hửu Chế bảo vệ, chỉ để lại 2 khẩu cho Tiểu Khu Long Khánh và 2 khẩu khác cho Chiến Đoàn 43 của Đại Tá Lê Xuân Hiếu, trong thị xã Xuân Lộc sử dụng mà thôi. Lại đặt ba bộ chỉ huy Sư Đoàn, một tại Xuân Lộc, một tại Tân Phong và một trên núi Thị có TD2/43 bảo vệ. Tất cả các Bộ Tư Lệnh Hành Quân, đều giống nhau, được thiết kế đầy đủ máy móc truyền tin kể cả đài siêu tầng số. Trong số này, BTL/HQ trên núi Thị giao cho Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế, TDT/TD2/43 trách nhiêm, như một đài liên lạc giữa Tướng Đảo và Quân Đoàn cũng như các cấp tại Trung Ương, nhờ máy móc siêu tần đặt trên núi cao nên rất mạnh. Ngoài ra, nhờ có ba BTL/HQ nên tướng Đảo để di chuyển liên tục, tránh phao địch. Về Truyền Tin của Ta cũng rất tài giỏi, nhờ thế nên đã bắt và giải mã được tần số của giặc, gần như biết trước lệnh tấn công của các đơn vị Bắc Việt, nên đã tránh được rất nhiều tổn thất. Riêng bộ tham mưu của SD18BB lúc đó gồm có : Tướng Lê Minh Đảo là tư lệnh SD, Đại Tá Lê Xuân Mai tư lệnh phó, Đại Tá Huỳnh Thao Lược - tham mưu trường SD, Đại Tá Hứa Yến Lến - tham mưu phó hành quân tiếp vận và Đại Tá Dương Phun Sang - chánh thanh tra SD..

Theo tất cả các cấp chỉ huy thuộc SD18BB còn sống , hiện đang ở Mỹ, hầu hết ai cũng xác nhận một sự thật rất quan trọng, đó là khi quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Xuân Lộc, thì Tướng Lê Minh Đảo đang có mặt tại Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của SD18BB tại căn cứ Long Bình và chỉ một vài giờ sau đã bay vào biển máu bom đạn và xác người tại trận địa Xuân Lộc. Trong lúc đó, đại úy Nguyễn Khiêm, trưởng ban ba của TrD43/18 vì công vụ cũng có mặt tại Long Bình và chính Tướng Đảo đã ra lệnh cho phi công chiếc C&C của TL, chở ông ta vào BTL/HQ tại Tân Phong.

Bốn ngày đầu chưa có Lữ Đoàn 1 Dù tăng viện nhưng Chiến Đoàn 43 và các Tiểu Đoàn Địa Phương Quân thiện chiến của TK Long Khánh, cùng TD82 BDQ vẫn giữ được Xuân Lộc. Từ ngày 12/4/75 , Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù của Đại Tá Đỉnh tăng viện, đảm trách mặt trận Gia Ray-Chứa Chan, nên tướng Đảo đả dùng Trung Đoàn 48 và Thiết Đoàn 5 kỵ binh, làm lực lượng tiếp ứng khắp nơi. Cũng theo tướng Đảo , trong trận Long Khánh, chỉ có cứ điểm Ngã Ba Túc Trưng, do Chiến Đoàn 52 của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng trấn giữ, là khó khăn và ác hiểm nhất nhưng quân ta dù lực lượng ít ỏi so với quân biển người của Bắc Việt, vẩn anh dũng chống cự. Oanh liệt nhất là trận Đồi Móng Ngựa, chỉ có hai đại đội của TD3/52 do Thiếu Tá Phan Tấn Mỹ, tức nhà văn nổi tiếng Ý Yên làm Tiểu Đoàn Trưởng, đã giữ vững vị trí từ ngày 10-4 tới 15-4-75, qua nhiều đợt tấn công biển người, cấp Trung Đoàn của SD6 Bắc Việt. Trận tử chiến trên Đồi Móng Ngựa cũng như hai trái bom con heo tại Dầu Giây -Túc Trưng, đều là những huyền thoại đẹp nhất trên những trang cận sử vừa nở hoa vừa loang đỏ máu, mà sau này mỗi khi đọc tới, chắc ai cũng không thể ngăn nổi giọt nước mắt muộn màng, để khóc tủi cho những người lính trận năm nào, đã vì ai mà xả thân không tiếc hận.

Đánh mãi không lấy được Xuân Lộc, Văn Tiến Dũng điều động Trần văn Trà thay Hoàng Cầm nhưng chiến trường vẫn không thay đổi. Do trên Trà một mặt để SD7 VC ở lại cầm chân SD18 BB và Dù tại Xuân Lộc, mặt khác tấn công biển người vào các vị trí của Chiến Đoàn 52, mở một đường máu từ Túc Trưng xuyên qua Biên Hòa, đối mặt với các Đơn Vị phòng thủ của Lực Lượng 3 Xung Kích, của tướng Trần Quang Khôi. Riêng Chiến Đoàn 52 của Đại Tá Dũng, tuy bị tổn thất gần 1/2 quân số, nhưng cuối cùng vẩn mở được đường máu Từ ngảø ba Túc Trưng về Biên Hòa.

* HAI TRÁI BOM DAISY CUTTER VÀ CUỘC LUI QUÂN CỦA SD18 *

Trong ' Đứa con cầu tự ', ông Nguyễn Cao Kỳ nguyên Thiếu tướng QLVNCH, cựu tư lệnh Không quân, cựu chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương, cựu phó tổng thống VNCH từ 1967-1971, có viết rằng chính ông ta là nhân vật đã ra lệnh sử dụng bom con heo tại mặt trận Xuân Lộc. Ai cũng biết từ sau năm 1972, ông Kỳ đã là một tướng lãnh bị phế thải, ngồi chơi xơi nước , trong tay ' không quân, không đơn vị ' . Cũng từ đó cho tới ngày 29-4-1975 bay trốn ra biển để tới Mỹ hưởng vinh hoa phú quý, tướng Kỳ ngoài việc trồng khoai mì tại đồn điền riêng ở Khánh Dương-Khánh Hòa, thì gần hết thời gian quý báu còn lại của một tướng lãnh, chỉ lăn vùi trong rượu chè, mạt chược, đá gà và bar-bung gái vợ. Như vậy, sức nào để ra lệnh cho KQ đánh bom , một sự kiện quan trọng bậc nhất của an ninh quốc phòng quốc gia VNCH, lúc đó chỉ có chính Tổng Thống, Thủ Tướng và Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH mới có thẩm quyền quyết định.

Bom Daisy Cutter , còn được gọi là bom con heo hay tiểu nguyên tử, có chiều dài và chièu cao gần tương đương với lòng chiếc vận tải cơ C130, trọng lượng là 7 tấn, gồm vỏ bọc và khối thuốc nổ 15.000 cân Anh TNT. Bom dùng mở bãi đáp cho cấp sư đoàn hay lộ quân trong bất cứ địa thế nào. Với con người, bom có tầm sát hại trong vòng bán kính 5 dặm Anh, hút hết dưỡng khí, làm cho người bị chết ngạt. Những ngày cuối cùng của tháng 4-1975, Mỹ có để lại cho VNCH chừng 10 trái nhưng không có ngòi nổ. Trong trận Xuân Lộc, truyền tin của Bắc Việt gần như bị ta giải mả hết, nên nhờ đó mà Bộ tư lệnh của SD18BB đều biết trước. Nhờ vậy đã kịp thời xin không quân hay pháo binh, bắn hay giội bom vào các vị trí của địch hay xe tăng một cách vô cùng chính xác. Ngày 15-4-75, khi tướng Đảo nhận tin vị trí của Chiến đoàn 52 của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng, từ Ngã ba Túc Trưng xuống tới Dầu Giây, bị hai sư đoàn Bắc Việt 6 và 341 tràn ngập, nên đã xin tướng Nguyễn văn Toàn, tư lệnh QD3, trình Bộ TTM, sử dụng bom con heo, để ngăn chận và giải cứu Chiến đoàn 52. Do trên , trong ngày 15-4-1975, Bộ TTM đã dùng vận tải cơ C130A thả 2 trái bom khổng lồ này, xuống vị trí của Bắc Việt, từ Túc Trưng về tới Dầu Giây, khiến cả một quân đoàn Bắc Việt, gồm người, tăng, pháo như rối loạn trong ba ngày liền vì có quá nhiều thương vong. Vì Hà Nội la làng, Mỹ vi phạm hiệp định ngưng bắn, dùng bom nguyên tử và trở lại VN, nên Hoa Kỳ đã chở số bom con heo còn lại về Mỹ.

Ngày 16-4-1975, phòng tuyến tại Phan Rang vở, các tướng lãnh Nguyễn Vĩnh Nghi, Pham Ngọc Sang, Đại Tá Nguyễn Thu Lương và hầu hết các sĩ quan cao cấp trong Bộ tư lệnh tiền phương của QD3, vì đi bộ với lính (dù có máy bay), và Đại Tá Lương, lúc đó đả cùng với các tiểu đoàn Dù về tới Cà Ná, nhưng ông cũng đã trở lại tìm hai tướng Nghi-Sang, nên đã bị giặc Cộng bắt giữa chốn ba quân. May mắn nhất vẫn là tướng Trần văn Nhựt ,Tư lệnh SD2 BB đang tham chiến tại mặt trận, nhờ lanh lẹ, nên leo L19, chạy kịp xuống tàu hải quân, đậu trong vịnh Ninh Chữ, sau đo cũng là một trong nhiều tướng lãnh tới Mỹ sớm. Đêm 19-4-1975, Bình Thuận-Phan Thiết mất và Bình Tuy ngày 20-4-1975. Như vậy các tuyến phòng thủ trên QL1 và 20, dẫn về Long Khánh gần như khai thông. Tướng Nguyễn Văn Toàn vì không muốn Xuân Lộc, lúc đó lại trở thành một Điện Biên Phủ hay Khe Sanh, giữa trùng vây của hơn mấy vạn quân Bắc Việt như trước. Hơn nửa, khi Trần Văn Trà thế Hoàng Cầm, đã dùng SD7 Bắc Việt cầm chân quân ta, còn Lộ quân 4 thì tìm đường khác tại Ngã ba Túc Trưng về Biên Hoà. Ở đó, chỉ có Lực lượng 3 Xung Kích của tướng Khôi, cùng Trung Đoàn 8 /SD5BB tăng phái, nên không đủ quân chống giữa. Do trên tướng Toàn đã xin Bộ Tổng Tham Mưu, chấp thuận bỏ Xuân Lộc, rút toàn bộ lực lượng đang chiến đấu tại đây gồm SD18BB, TK Long Khánh, Lữ Đoàn Dù, BDQ về Phước Tuy, giữ Biên Hòa-Sài Gòn, và đã được chấp thuận, dù lúc đó, quân ta còn đầy đủ đạn pháo và tinh thần chiến đấu. Tại Gia Ray-Chứa Chan, Lữ Đoàn Dù-BDQ-Thiết Đoàn 5 và Trung Đoàn 48/18 đang gom SD7 Bắc Việt vào rọ, để tiêu diệt.

Theo tướng Đảo, thì vào lúc 9 giờ sáng ngày 20-4-1975, tướng Toàn thân hành bay trực thăng vào BTL.SD18BB tại chiến trường Xuân Lộc, ban lệnh RÚT QUÂN, BỎ LONG KHÁNH của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, tới Tướng Đảo và CUỘC RÚT QUÂN hoàn toàn bằng đường bộ, không có ai được máy bay tới chở về. Quan trọng hơn hết, tất cả đều đi, không có 600 quân nào của Trung Đoàn 43, do Đại Tá Lê Xuân Hiếu tình nguyện ở lại bán mạng, như một vài người đả vin vào tài liệu Mỹ, viết sử. Cảm động vô cùng, là khi Lữ Đoàn 1 Dù của Đại Tá Đỉnh rút quân, đồng bào công giáo ở các xã Bảo Định, Bảo Toàn, Bảo Hòa..đã đồng loạt rút theo, làm cho cánh quân này vì phải bảo vệ đồng nào tị nạn, nên bị thiệt hại nhiều nhất.

Ngay khi nhận được lệnh, trong ngày 20-4-1975, tướng Đảo ra lệnh cho Lữ Đoàn 1 Dù, tấn công tới tấp SD7 VC để nghi binh. Trên núi Thị, rút hết pháo, chỉ để lại 2 khẩu cho Tiểu Đoàn 2/43 bắn cầm chừng, làm giặc không biết đâu mà mò. Cuộc lui quân, bắt đầu, lúc 8 giờ đêm 20-4-1975, bằng Liên Tỉnh lộ 2, Tân Phong-Long Giao-Bà Rịa. Đây cũng là một quyết định táo bạo, đồng thời cũng làmột yếu tố bất ngờ mà Bắc Việt không bao giờ đoán nổi. Vì Liên tỉnh lộ 2 dài khỏng 40 km, từ khi quân Đồng Minh rút, đường đã bị bỏ hoang và trở thành căn cứ địa cuả các lực lượng Du kích tỉnh cũng như Trung Đoàn 33 chính quy Bắc Việt. Theo kế hoạch lui quân, Trung Đoàn 48 của Trung Tá Trần Minh Công mở đường. Cánh 2 là đoàn cơ giới, pháo, chiến xa Thiết đoàn 5 của Trung Tá Nô. Đặc biệt tướng Đảo, đã mang trả lại cho QD3 hai khẩu đại pháo 175 ly cho mượn, có tầm bắn xa trên 30 km, đặt trên xe xích . Tất cả lực lượng này do Đại Tá Hứa Yến Lến, tham mưu phó hành quân SD 18BB chỉ huy. Đơn vị kế tiếp là DPQ và NQ Long Khánh của Đại Tá BDQ. Phạm văn Phúc, Tỉnh trưởng Long Khánh. Cánh quân này, trong lúc rút bị đụng nặng, làm Trung Tá Tiểu Khu Phó tử thương. Còn Đại Tá Phúc bị bắt và giải ngay ra Bắc, chịu nhiều năm tù khôc hận như các cấp Sĩ quan/QLVNCH sau ngày 30-4-1975. Tướng Đảo đi bộ với cánh quân Trung Đoàn 43 của Đại Tá Lê Xuân Hiếu, hiện ở Oregon. Và cuối cùng là Lữ Đoàn 1 Dù đoạn hậu. Theo kế hoạch lui quân, Tiểu đoàn 2/43 của Thiếu tá Chế từ Núi Thị xuống sẽ đi trước Lữ Đoàn Dù, nhưng vì trục trặc chiến thuật, nên cuối cùng lại trở thành đơn vị cuối khi rời Long Khánh. Tóm lại cuộc lui quân coi như thành công, nhờ có tổ chức, kế hoạch và trên hết, chính tướng Đảo cũng như tất cả các đơn vị trưởng từ Tỉnh Trưởng Phạm văn Phúc, Đại tá Đỉnh, Lữ Đoàn trưởng Dù..đều đi bộ và tác chiến như lính. Thử hỏi sao không đạt được chiến thắng ?.

* NGƯỜI VỀ TỪ ĐỊA NGỤC *

Tiểu Đoàn Trưởng TD2/Trung Đoàn 43/SD18BB là Nguyễn Hữu Chế, xuất thân từ khóa 13, sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Từ năm 1972 khi Đại Tá Đảo, về làm tư lệnh SD18BB, thay tướng Thơ, lúc đó Trung Úy Nguyễn Hữu Chế ở TD2/43 nhưng sau những chiến công rền vang khắp các mặt trẩn từ Chà Rầy-Trung Lập, tới Tam Giác Sắt-An Điềm, chỉ trong 1 năm, đã được vinh thăng ngay tại mặt trận , Đại Uý rồiThiếu Tá và giữ TDT.TD2/43 là một đơn vị cùng với TD1/52 của Đại Uý Út, là hai đơn vị kiệt hiệt nhất của SD18BB.

Theo lời Thiếu Tá Chế, thì trong đêm lui quân 20-4-1975, lệnh hành quân ghi rõ : kể từ 12 giờ đêm, TD2/43 sẽ trở về hệ thống liên lạc của sư đoàn. Tiểu đoàn sẽ di chuyẻn trước, sau đó là Lữ Đoàn 1 Dù, theo lộ trình về hướng Đức Thanh-Bà Rịa. Lệnh là vậy nhưng thực tế vô cùng khó khăn, vì khi Lữ Đoàn 1 Dù, cho lệnh TD2/43 trở về với hệ thống của sư đoàn 18BB, thì lúc đó đã 3 giờ sáng. Tiểu đoàn liền cho lệnh gom quân các tiền đồn về, trong đó có Trung Đội Biệt Kích hoạt động tận núi Ma, cho nên tới 5 giờ sáng mơi hoàn tất việc thu quân. Vì vậy khi xuống núi Thị, thì trời đã rạng đông. Tiểu đoàn tiếp tục di chuyển theo lộ trình rút quân, gần tới Căn cứ Long Giao, lúc đó đã 7 giờ sáng, thì Đại Tá Ngô Kỳ Dũng, Trung Đoàn Trưởng TrD52/18 , bay trên chiếc C&C của Tư Lệnh, chuyển lệnh của Tướng Đảo, ra lệnh cho TD2/43 phải hủy bỏ lộ trình củ như lệnh hành quân ban đầu và phải băng rừng, chuyển hướng về Long Thành, vì Bắc Việt đã phát giác SD18BB lui quân, mà đơn vị cuối cùng là TD2/43 nên ra lệnh cho SD7 VC phải truy sát cho tận tuyệt.Thật ra, lúc đo cũng còn một vài toán Địa Phương Quân và Nghỉa Quân, lạc đàn chạy theo. Nhưng trong tình cảnh hiểm nguy đó, làm sao biết được ai là bạn hay thù, hoặc có thể VC đã theo kíp họ, nên TD 2/43 đã tìm cách đổi hương, để giữ mạng.

Khi rời núi Thị, quân số của TD2/43, kể cả tăng phái trong đó có nhiều SQ,HSQ, và binh sĩ Pháo Binh,hơn 600 người. Ngoài Hậu cứ của TD2/43 đã di chuyển trước với cánh quân của Trung Đoàn, Bộ Chỉ Huy TD ngoài TDT Chế, còn có TDP là Đại Uý Nguyễn Tấn Chi (Khóa 12 SQTB/TD), Trung Úy Võ Kim Thạch (DDT/DDCH), Trung Uý Nguyễn Văn Hào (DDT/DD1), Trung Uý Võ Văn Mười (DDT/DD2), Trung Uý Nguyễn Văn Hùng (DDT/DD3), Trung Uý Hà Văn Dương (DDT/DD4) cùng các Sĩ quan truyền tin, ban 2, ban 3 , quân y , sĩ quan tiền sát viên pháo binh..

Nhưng sau lần liên lạc được với Đại Tá Dũng, TD2/43 coi như lạc lỏng trong rừng sâu từ giây phút đó. Vùng này bốn bề xưa nay đầy rẩy các căn cứ cọng sản trong đó có mật khu Hắc Dịch nổi tiếng, đang có sự hiện diện của SD341 Bắc Việt tân lập. Từ đó, TD2/43 không còn ai liên lạc, chẳng có pháo binh, không quân hay thiết kỵ nào yểm trợ, vì mọi đơn vị bạn đều cách xa. Nhưng cũng may, từ khi được thành lập tại Phan Rí, tỉnh Bình Thuận vào năm 1955, qua danh xưng TD265, 84 sau đó là TD2/43 biệt lập cho tới ngày nay. Hầu hết các vị Tiểu Đoàn Trưởng như Đại Uý Nguyễn Văn Hai, cố Trung Tá Hắc Long Đổ văn Tân, cố Trung Tá Hắc Long Nguyễn Văn Thoại và cuối cùng là Thiếu Tá Bảo Đinh Nguyễn Hữu Chế, tất cả đều là những đơn vị trưởng tài giỏi, đầy kinh nghiệm hành quân trong vùng, biết địa thế rõ như lòng bàn tay, mà không cần phải xem bàn đồ., nhờ vậy mới không bị biển người cọng sản tiêu diệt. Từ 9 giờ sáng, TD2/43 đã bắt đầu chạm địch ở phía tây căn cứ Long Giao., nhưng vì không có quân bạn yểm trợ, nên Thiếu Tá Chế đã cố gắng đoạn chiến, đổi hướng nhiều lần lộ trình, vì không muốn gây thương vong cho đơn vị. Đến chiều cùng ngày, khi TD2/43 vào tới bìa của một khu rừng rậm, sau khi nhĩ ngơi, Thiếu Tá Chế chia TD làm hai cánh, một do Đại Uý Chi TDP chỉ huy, để hành quân xuyên rừng về Long Thành. Cũng từ đó, TD chạm địch liên miên, đến đổi cánh quân do Thiếu Tá Chế chỉ huy, chỉ còn vỏn vẹn có 28 người. Cũng trong đêm đó, toán người của Thiếu Tá Chế lại bị lọt vào vòng vây, nhưng nhờ trong số này còn có Trung Đội Biệt kích thiện chiến nhất của TD, nên cuối cùng anh em thoát được.

Đến ngày thứ tư, TD đến gần Long Thành nhưng TT Chế vẫn không dám liên lạc truyền tin vì sợ lộ mục tiêu, dù lúc đó trên bầu trời lúc nào cũng có phi cơ của SD18BB bay tìm kiếm TD2/43.

Tại căn cứ Long Bình, tiền trạm của TD2/43 do Trung Uý Nguyễn Văn Thắng, SQ ban 1 chỉ huy hậu cứ, điều động quân xa vào các bìa rừng ven Long Thành để đón lính TD2/43., đã vượt thoát được vòng vây, trở về cõi sống. Nói chung, cánh quân do Đại Uý Chi, TDP chỉ huy gần như còn nguyên vẹn khi ra tới Long Thành. Nhưng trái lại, cánh quân của Thiếu Tá Chế lại đụng độ rất nặng, nhưng nhiều quân nhân còn sống sót, đã tìm được đường về điểm tãp trung.

Dù đã liên lạc được với Đại Tá Hiếu Trung Đoàn Trưởng TrD43 vào buổi chiều ngày 24/4/1975 nhưng tới 9 giờ sáng hôm sau, bốn chiếc trực thăng của SD mới vào bốc người nhưng vẫn bị VC truy sát, không buông tha.

Tại căn cứ Long Bình, Tiểu Đoàn tập hợp lại, bổ sung và tiếp tục chiến đấu, sau khi thoát chết, để cùng với SD18BB và tướng Đảo, cũng như tất cả các đơn vị trưởng, chiến đấu cho tới ngày 30-4-1975, mới phải buông súng, rã ngũ vì lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh. Riêng Tiểu Đoàn Trưởng TD 1/43 là Đại Uý Chu hiện ở Úc nhưng vào ngày 12-4-1975 được thay thế bởi Thiếu Tá Tùng. Thảm nhất là Tiểu Đoàn Trưởng TD3/43, Đại Uý Du, ngày tan hàng về nhà, thì bị giặc bất ngay, đem thủ tiêu mất xác.

Trong ' Đại thắng mùa xuân', Văn Tiến Dũng, Tổng tư lệnh bộ đội miền Bắc, đã lấy lý do vì không kịp vẽ bản đồ Long Khánh, nên đã bị bại trận Xuân Lộc. Thật sự trong 12 ngày ác chiến, Bắc Việt đã tung vào chiến trường sáu Sư Đoàn , gồm 6,7,341,325,10 và 304 để chọi với SD18BB, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, TD82BDQ và các TD.DPQ , Trung Đội NQ của tỉnh Long Khánh. Kết quả có hơn 6000 cán binh bộ đội bị phơi thây tại chỗ và 37 chiến xa đủ loại bị bắn cháy.

Để tưởng thưởng những quân nhân có công trong trận Xuân Lộc, quyền Tổng Tham Mưu Trưởng lúc đó là Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, ban hành SVVT ân thưởng cho tất cả quân sự đã tham dự , được lên một cấp. Riêng Chuẩn tướng Lê Minh Đảo, Tư lệnh Mặt Trận Long Khánh kiêm TL.SD18BB, được chính Tổng Thống Trần Văn Hương, vinh thăng Thiếu Tướng, đặc cách tại Mặt Trận từ ngày 25-4-1975.

Ba mươi năm qua, cuộc chiến đã tàn theo năm tháng nhưng hơn 80 triệu đồng bào trong nước vẫn không có đủ tự do để thở, cũng như có cơm ăn áo mặc., khiến cho đất nước càng ngày càng thảm thê héo hận.

Ngày nay ai có dịp được xuôi ngược trên các nẻo đường quê hương lửa khói xa xưa, từ cổng bắc của Thị Trấn Hố Nai, qua Bầu Cá, Trảng Bom, Hưng Lộc, Dầu Giây, lên Kiệm Tân, Túc Trưng, Định Quán ..hay về Xuân Lộc, Tân Phong, Long Giao, Gia Ray, không hiểu họ có còn nhớ chăng những ngày bi thảm tận tuyệt của đất nước vào cuối tháng 4-1975. Cũng chính tại Xuân Lộc, người dân cũng như lính tráng của miền cao su-đất đỏ, trước cuộc xâm lăng tàn bạo của giặc cộng xâm lăng Bắc Việt, đã phẩn nộ, tử chiến lần cuối cùng với rợ Hồ. Trong lúc tại Sài Gòn người ta tìm đường trốn khỏi nước, thì tại Xuân Lộc, người lính từ quan cho tới cấp binh nhì, binh sĩ quân dịch, từng giây lội trong hố máu, hầm xương, còn trên đầu thì đội bom hứng đạn, giành nhau từng vách tường cháy, đống gạch vụn, các công sự phòng thủ để giữ mạng . Tội nhất là những lính của TD2/43 đơn vị cuối cùng, đói khát chết chóc trong rừng sâu, giữa chốn ba quân, để tìm đường về cõi sống.

Bỗng dưng thấy thật u uất ngậm ngùi, khi vô tình đọc được bài cổ thi ' Lưỡng Tây Hành' của Trần Đào thời Hậu Hán, nói lên thảm trạng chiến tranh, đến nỗi xác của những người lính tại sa trường, đã trở thành ' đống xương vô định cao hơn đầu ', mà tại hậu phương những người thiếu phụ vẫn cứ mãi bên án trông chồng ngoài quan tái. Hỡi ơi mới đó mà đã ba mươi năm đoạn trường máu lệ, tóc xanh thành tóc bạc, bạn bè thân thương một còn, chín mất, lưu lạc khắp ngàn phương, khiến mất cứ mãi ngóng tìm.

' ngày mai rồi có ngày nào,

theo chân voi trận, để vào Thăng Long ..'

Cái mộng năm xưa nay cũng còn là mộng, khiến giờ chỉ còn biết :

' nghiêng bầu mà hỏi

thiên hạ mang mang

ai người tri kỷ

l lại đây cùng ta cạn một hồ trường

hồ trường, hồ trường

ta biết rót về đâu ?

(thơ của Nguyễn Bá Trác)

Xóm Cồn tháng 3-2005, HỒ ĐINH, TD1/43/18BB-kbc 4424

THAM KHẢO :

-Chiến sử QLVNCH của Phạm Phong Dinh và Nguyễn Đức Phương.

-55 ngày cuối cùng của Chánh Đạo

-Những ngày cuối cùng của VNCH, của Nguyễn Khắc Ngử

-Tôn vinh Người Lính VNCH của Phạm Kim Vinh

-Nhật báo Tiền Phong, KBC hải Ngoại

-Tài Liệu của Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh SD18BB và Thiếu Ta Nguyễn Hữu Chế, TDT/TD2/43/SD18BB